du lịch, tour du lich
Lễ hội truyền thống(Lễ cầu ngư, Lễ giỗ tổ nghề yến)

Lễ lệ - lễ hội

05/01/2015
(Giới thiệu một số lễ hội, lễ lệ chính)

 * Lễ tế tổ nghề yến: Ở vùng đảo Cù Lao Chàm Hội An có một loài chim quý gọi là chim yến. Loài chim này có dáng nhỏ như chim sẻ, đuôi ngắn chẻ đôi, toàn thân màu đen tuyền nên còn có tên gọi là huyền điểu. Khác với những loài chim khác, chim yến có cách làm tổ rất đặc biệt là chúng tự nhả nước bọt trên những vách đá cheo leo để đẻ trứng nuôi con. Tổ yến hay còn gọi là tai yến có hàm lượng dinh dưỡng rất cao (36 - 52% hàm lượng protein), ngoài ra tổ yến còn là một nguồn dược liệu quý.
Theo nhiều nguồn tư liệu, từ thời kỳ Champa người Chàm đã biết khai thác loại tổ yến này. Đến đầu thời nhà Nguyễn, họ Hồ và một số tộc họ khác tại làng Thanh Châu (thuộc xã Thanh Châu, tổng Thanh Châu) được giao phó nhiệm vụ khai thác yến tại xứ Cù Lao thuộc xã Thanh Châu này. Trong đó, ông Hồ Văn Hoà được cử làm Hộ trưởng, rồi đến con ông là Hồ Văn Học kế thừa và quản cả “Tam tỉnh yến hộ” (Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hoà).
Để tưởng nhớ những bậc “tiền nhân sáng tạo” ở các đời trước, với tư cách là “hậu thế tuân thừa”, vào năm Tự Đức nguyên niên (1848) ông Hồ Văn Hoà cùng một số chức dịch địa phương đứng ra xây dựng 2 ngôi miếu, một tại đất liền ở xã Thanh Châu, một tại xứ Bãi Hương thuộc Cù Lao - Tân Hiệp phường (nay là thôn Bài Hương - xã Tân Hiệp) để thờ tổ nghề, các bậc thần thánh liên quan đến nghề khai thác yến sào và lấy ngày mồng 10 tháng 3 AL hàng năm làm lệ cúng tổ nghề. Kể từ đó đến nay, tuy trải qua bao lần binh lửa chiến tranh nhưng những người làm nghể yến và cư dân trên đảo vẫn duy trì cúng tế.
Lễ tế tổ nghề yến ở Cù Lao Chàm là một trong những lễ hội lớn của Cù lao nói riêng và cả Hội An nói chung, vì đây không những là lễ tế tổ của một nghề mà còn được xem là lễ cúng cầu an đầu năm cho cả cộng đồng cư dân sinh sống trên đảo.
Thường lễ tế được diễn ra trong hai ngày. Ngày đầu (9/3 AL), những người chủ trì vận động bà con dọn dẹp vệ sinh, trang hoàng khu vực cúng tế, bày biện lễ vật trên các bàn thờ, khám thờ. Đến tối, các vị cao niên trong làng và đại diện các tộc họ có liên quan đế nghề yến tập trung tại miếu tổ để tổ chức cúng lễ túc. Theo quan niệm của các vị cao tuổi, sở dĩ cúng lễ này là để cáo trước với chư tổ, thần thánh về việc tế chính ngày mai. Do vậy, lễ này diễn ra nhanh gọn, chỉ dâng hương, đánh chiêng trống, không xướng tế, không đi gia lễ, đọc văn tế…
Sang ngày mồng 10/3 AL, với những đội thuyền đã chuẩn bị sẵn, các vị chủ trì tế lễ cùng bà con cử hành lễ nghinh thần, rước vọng. Dẫn đầu đoàn rước là một thuyền lớn, trước thuyền bày một bàn thờ lớn trang trí cờ hoa, cờ hội nhiều màu sắc rất là lộng lẫy. Lộ trình của đoàn nghinh thần là lần lược đi qua khu vực các lăng thờ, miếu thờ dọc trên các bãi từ Bãi Hương lên Bãi Làng, Bãi Ông. Khi thuyền đến những nơi thờ tự, các vị chánh tế hướng về phía đó vái vọng, thỉnh mời, sau cùng là vái vọng những hoàn đảo có chim yến làm tổ như hòn Tai, hòn Khô…
Khi đoàn nghinh thần hoàn thành “thủ tục” quay về thì chiêng trống trong miếu tổ bắt đầu nổi lên, án nghinh thần được khiêng vào đặt trong sân miếu và chuẩn bị tiến hành lễ cúng âm linh. Lễ tế âm linh cúng là lễ cúng quan trọng nên cũng diễn ra đúng theo trình tự các nghi thức tế lễ truyền thống như có xướng tế, có chánh tế, tả hữu phân hiến, có cổ nhạc, đi gia lễ, đọc văn tế…
Sau lễ tế âm linh là lễ tế tổ. Về hình thức, lễ tế tổ cũng tương tự như lễ âm linh, cụ thể là cũng có xướng tế, có chánh tế, tả hữu phân hiến, có cổ nhạc, đi gia lễ, đọc văn tế… Nhưng về nội dung thì lễ này là lễ tế lịch đại tổ nghề và chư thần, thánh sông nước bảo trợ của nghề như: Đại Càn, Ngũ HànhậiThnhf Hoàng bổ xứ, Phục Ba tướng quân, Nam Hải Ngọc Lân, Hà Bá, Thuỷ Long…Nội dung lễ tế tổ là người ta ca tụng công đức của các bậc “tiền nhân sáng tạo” mở nghiệp, các bậc thần thánh bảo trợ cho nghề đựơc “lâu bền”, để cho ngày nay hậu thế lại kế nghiệp “tuân thừa” khai thác. cầu cho nghề nghiệp phát triển, thôn xóm bình an, mọi người khoẻ mạnh.
Sau lễ tế tổ, người ta thường tổ chức nhiều hoạt động thể thao phụ trợc như: thi kéo co, lắc thúng chai, đua thuyền… để làm tăng thêm không khí vui nhộn trong ngày lễ hội.

* Lễ cầu ngư: Việc tôn sùng, tín bái cá Ông là một tập tục có từ lâu đời của hầu hết ngư dân vùng ven biển miền Trung Việt Nam. Có thể nói, nơi nào có ngư dân sinh sống làm ăn thì nơi đó có lăng Ông để thờ cá Ông. Quan niệm của những người đánh cá cho rằng, cá Ông là vị thần biển có nhân tính, thường xuất hiện cứu vớt những người bị nạn trên biển, là vị cứu tinh kịp thời của dân chúng trên vùng biển mênh mông khi gặp thủy tai. Vì vậy, khi có cá Ông lỵ (lụy) do đánh nhau với cá mập, cá xà, trôi dạt vào bờ thì người ta có nhiệm vụ phải làm đám tang đúng theo sách Thọ mai gia lễ, sau đó chôn cất và đưa xương vào lăng thờ cúng. Trước đây, nhà nước phong kiến Việt nam cũng công nhận vai trò quan trọng của cá Ông đối với ngư dân, nên đã nhiều lần ban sắc phong, gia tặng mỹ tự là “Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân tôn thần” và cho ngư dân khắp nơi xây lăng lập miếu để thờ.
Ở Cù Lao Chàm, khi ngư dân phát hiện được xác cá ông luỵ họ thường đem mai táng tại Bãi Ông (thôn Bãi Ông), vì nơi đây bãi biển có độ dốc thấp và có đất đai rộng rãi nên rất thuận lợi cho việc mai táng. Sau khi chôn được 3 năm, người ta đào lấy xương cá ông, dùng rượu rửa sạch và thỉnh về thờ tại lăng Ông ở Bãi Làng.
Hàng năm, trước khi chuẩn bị ra khơi đánh bắt cá vụ nam, ngư dân Cù Lao Chàm thường tổ chức lễ cúng tại lăng Ông gọi là lễ cầu ngư. Lễ này được tổ chức khá quy mô với sự tham gia của hầu hết ngư dân sinh sống trên đảo và đông đảo ngư dân ở các vùng lân cận. trong ngày lễ, ngoài việc cúng tế, người ta còn tổ chức hát bả trạo mà người dân địa phương quen gọi là hát chèo (hát bả trạo hay hát chèo là vừa hát vừa cầm chèo diễn tả động tác chèo thuyền, chứ không phải như hát chèo ở miền Bắc).
Lễ cúng cầu ngư được diễn ra theo nghi thức tế lễ truyền thống vốn có từ bao đời nay của địa phương. Lễ tế thường diễn ra trong hai ngày, ngày đầu người ta tổ chức bày trí trần thiết trong lăng; đến tối thì tiến hành cúng lễ túc (còn gọi là lễ cáo yết hay lễ tiên thường). Sang ngày hôm sau thì tổ chức lễ nghinh thần. Để tiến hành lễ nghinh, người ta làm một kiệu thần rồi đặt lên một chiếc thuyền lớn, trên thuyền trang trí cờ hoa, cờ hội rất là lộng lẫy. Ngoài ra, còn bố trí chiêng trống, đội nhạc để phụ trợ trong lễ nghinh thần. Sau khi nghinh thần về người ta tiến hành cúng âm linh, cầu an. Lễ cúng âm linh kéo dài khoảng hơn một giờ, sau đó người ta hoá vàng mã và tiếp tục phần tễ ông Ngọc Lân Nam Hải. Lễ tế Ông thường bao gồm ba phần chính đó là sơ hiến lễ, á hiến lễ và chung hiến lễ; Trong lễ cúng bao giờ cũng có xướng tế, đọc văn tế và đi gia lễ. Thành phần tham dự chủ yếu trong lễ tế là các cụ cao tuổi, cư dân địa phương và ngư dân ở các vùng lân cận. Thông thường sau khi kết thúc tế lễ là phần hát chèo bả trạo, trước đây người ta còn tổ chức hát bội 6, 7 ngày. Sau lễ cầu ngư, ngư dân thường tổ chức các hoạt động thể thao vui chơi giải trí như: đua thuyền, lắc thúng chai, kéo co…
Mục đích chính của lễ cúng cầu ngư và hát bả trạo là nhân lúc trước khi ra khơi, người ta tổ chức cúng ông Nam Hải và chư thần để cầu mong làng xóm bình yên, những người ra khơi được thuận buồm xuôi gió, đánh bắt được nhiều hải sản. Lễ cầu ngư ở Cù Lao Chàm là một trong những lễ hội dân gian truyền thống tiêu biểu của xứ Cù Lao; Đây là một lễ hội gắn liền với tín ngưỡng sông nước của đai da số nhân dân làm nghề biển nên mỗi khi tổ chức đều thu hút đông đảo quần chúng tích cực tham gia. Qua lễ hội này có thể thấy được sự phong phú, đa dạng về các hoạt động văn hoá lễ hội ở Cù Lao chàm nói riêng, cả Hội An nói chung.

Phòng Văn hóa và Thông Tin Hội An
tra cuu van ban
banner van ban trung uong

Video Clip

This text will be replaced

Thư viện hình ảnh

Liên kết hữu ích