Đề cương tuyên truyền Kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng - 03/3 (1959-2019) và 30 năm Ngày Biên phòng toàn dân - 03/3 (1989-2019)
du lịch, tour du lich
Đề cương tuyên truyền Kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng - 03/3 (1959-2019) và 30 năm Ngày Biên phòng toàn dân - 03/3 (1989-2019) (19/02/2019)
I. BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG - 60 NĂM XÂY DỰNG, TRƯỞNG THÀNH
1. Sự ra đời của lực lượng Bộ đội Biên phòng
Nắm vững quy luật khách quan, vận dụng kinh nghiệm cha ông vào điều kiện lịch sử mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn coi nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia là yêu cầu tất yếu của cách mạng; là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, chống thù trong giặc ngoài để giữ vững chủ quyền độc lập dân tộc ở biên giới; giữ gìn an ninh trật tự; thực hiện đường lối đối ngoại, xây dựng tình đoàn kết hữu nghị giữa nước ta với các nước láng giềng. Sau thắng lợi của chiến dịch Biên giới 1950, Trung ương Đảng và Bác Hồ đã quyết định thành lập lực lượng Công an Biên phòng thuộc Bộ Công an (Sắc lệnh số 141/SL ngày 16/02/1953 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký), bố trí thành các đồn biên phòng dọc biên giới, trực thuộc Ty Công an các tỉnh có biên giới; làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới đất liền, bờ biển, giới tuyến và các mục tiêu quan trọng ở nội địa.

Bộ đội Biên phòng 2 tỉnh Quảng Nam và Sê Kông tuần tra song phương mốc Đại 717.

Những năm sau hòa bình (1954) được lập lại trên miền Bắc, Đảng và Nhà nước ta đã sớm thấy rõ công tác bảo vệ giữ vững độc lập chủ quyền lãnh thổ miền Bắc có tầm quan trọng đặc biệt và đang đặt ra những vấn đề cấp thiết cần tập trung lãnh đạo.
Để tăng cường công tác quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới, cần có một lực lượng vũ trang thống nhất, chuyên trách, vững mạnh về chính trị, chặt chẽ về tổ chức; nắm vững đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; hiểu biết sâu về pháp luật, có năng lực quản lý, bảo vệ biên giới, giới tuyến, nội địa bằng các biện pháp nghiệp vụ chuyên sâu và khả năng chiến đấu vũ trang giỏi. Ngày 19/11/1958, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II ra Nghị quyết số 58/NQ-TW “Về việc thành lập lực lượng Cảnh vệ nội địa và Biên phòng”, sau này là lực lượng Công an Nhân dân vũ trang. Đây là nghị quyết đặc biệt, đầu tiên của Đảng về công tác biên phòng, nội địa và giới tuyến, khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của biên giới quốc gia; thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với lực lượng vũ trang chuyên trách, nòng cốt bảo vệ biên giới, giới tuyến và các mục tiêu nội địa. Nghị quyết của Bộ Chính trị xác định lực lượng Cảnh vệ nội địa và Biên phòng có nhiệm vụ: “Trấn áp mọi hành động phá hoại của bọn phản cách mạng trong nước và bọn phản cách mạng ngoài nước xâm nhập phá hoại nước ta, luôn luôn sẵn sàng, chiến đấu để bảo vệ an ninh biên giới, bờ biển, giới tuyến và nội địa, bảo vệ an toàn cho các cơ sở kinh tế, văn hóa quan trọng”. Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, ngày 03/3/1959, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 100/TTg thành lập lực lượng Công an Nhân dân vũ trang, nêu rõ:“Thống nhất các đơn vị bộ đội thuộc Bộ Quốc phòng đang làm công tác bảo vệ nội địa, bảo vệ biên giới, giới tuyến và các đơn vị Công an Biên phòng, Cảnh sát vũ trang thành một lực lượng vũ trang chuyên trách công tác biên phòng và bảo vệ nội địa, lấy tên là Công an nhân dân vũ trang, đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Công an”.

Tại buổi Lễ thành lập lực lượng, ngày 28/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự và huấn thị cán bộ, chiến sĩ Công an Nhân dân vũ trang: “Đoàn kết, cảnh giác/ Liêm chính, kiệm cần/ Hoàn thành nhiệm vụ' Khắc phục khó khăn/ Dũng cảm trước địch/ Vì nước quên thân/ Trung thành với Đảng/ Tận tụy với dân”.

Từ đây, nước ta chính thức có một lực lượng vũ trang chuyên trách công tác nội địa, biên phòng, tập trung thống nhất từ Trung ương đến cơ sở, gồm 3 cấp: Trung ương có Ban Chỉ huy Trung ương Công an Nhân dân vũ trang (tháng 7/1961 đổi tên thành Bộ Tư lệnh Công an Nhân dân vũ trang) do đồng chí Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ - Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an làm Tư lệnh, kiêm Chính ủy đầu tiên của lực lượng; cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có Ban Chỉ huy Công an Nhân dân vũ trang tỉnh, thành phố; cấp cơ sở có các đồn Công an Nhân dân vũ trang và đơn vị cơ động. Từ đó, ngày 03/3/1959 chính thức trở thành Ngày truyền thống của lực lượng Công an Nhân dân vũ trang và Bộ đội Biên phòng ngày nay.
Ngay từ khi thành lập và suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng vinh dự tự hào, thường xuyên được đón nhận sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, toàn diện của Đảng và Bác Hồ kính yêu. Ngày 02/3/1962, tại Đại hội chiến sĩ thi đua Công an Nhân dân vũ trang toàn quốc lần thứ nhất, Bác Hồ đã đến dự, biểu dương thành tích và tặng cán bộ, chiến sĩ toàn lực lượng bài thơ: “Non xanh nước biếc trùng trùng,/ Giữ gìn Tổ quốc ta không ngại ngùng gian lao./ Núi cao sự nghiệp càng cao,/ Biển sâu chí khí ta soi vào càng sâu,/ Thi đua ta quyết giật cờ đầu”.

Những lời dạy của Bác Hồ kính yêu đã trở thành phương châm hành động của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng. Trải qua 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Bộ đội Biên phòng liên tục có sự phát triển về biên chế, tổ chức và nhiệm vụ, gắn liền với quá trình vận động, phát triển của tình hình, nhiệm vụ cách mạng của đất nước, được cụ thể hóa bằng các nghị quyết của Đảng và các quyết định của Chính phủ. Trong đó có 4 nghị quyết đánh dấu sự ra đời và thay đổi tổ chức của Bộ đội Biên phòng là: Nghị quyết số 58/NQ-TW, ngày 19/11/1958 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II về “Thành lập lực lượng bảo vệ nội địa và biên phòng” đánh dấu sự ra đời lực lượng Công an Nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng)"; Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10/10/1979 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV về việc “Chuyển giao nhiệm vụ và lực lượng Công an Nhân dân vũ trang sang Bộ Quốc phòng thành lực lượng Bộ đội Biên phòng”; Nghị quyết số 07/NQ-TW, ngày 30/11/1987 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI về “Nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới”, nghị quyết đã chỉ rõ: “Chuyển giao lực lượng Bộ đội Biên phòng cho Bộ Nội vụ trực tiếp phụ trách” (tức Bộ Công an hiện nay); đồng thời, tại Chỉ thị số 41-CT/TW, ngày 31/5/1988 của Ban Bí thư về “Chuyển giao lực lượng Bộ đội Biên phòng từ Bộ Quốc phòng sang Bộ Nội vụ” đã ghi rõ: “Bộ Quốc phòng chuyển giao nhiệm vụ, toàn bộ tổ chức, biên chế, trang bị và cơ sở vật chất, kỹ thuật của lực lượng Bộ đội Biên phòng sang Bộ Nội vụ. Lực lượng Bộ đội Biên phòng đặt dưới sự chỉ đạo, chỉ huy toàn diện của Bộ trưởng Bộ Nội vụ”; Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 08/8/1995 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về “Xây dựng Bộ đội Biên phòng trong tình hình mới” đã quyết định chuyển lực lượng Bộ đội Biên phòng từ Bộ Nội vụ sang Bộ Quốc phòng và xác định nhiệm vụ công tác biên phòng trong tình hình mới rất toàn diện, bao gồm: “Bảo vệ biên giới trên bộ, trên biển; bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của đất nước; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chống xâm nhập và chống buôn lậu qua biên giới; bảo vệ tài nguyên của đất nước; xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển với các nước láng giềng. Phối hợp với lực lượng bảo vệ biên giới các nước láng giềng thi hành các điều ước quốc tế, các hiệp ước, hiệp định; tuyên truyền, vận động nhân dân vùng biên giới tăng cường đoàn kết, thực hiện tốt các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng nền biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân vững mạnh”.

Ngày 22/12/2004, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX ra Thông báo số 165-TB/TW về tổ chức Bộ đội Biên phòng nhấn mạnh: Công tác bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia và xây dựng Bộ đội Biên phòng phải bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chủ tịch nước, Chính phủ, Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương), Bộ Quốc phòng và các tỉnh ủy, thành ủy (nơi có Bộ đội Biên phòng). Giữ ổn định lâu dài hệ thống tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Bộ đội Biên phòng như Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 08/8/1995 của Bộ Chính trị. Bộ đội Biên phòng là một quân chủng thuộc Bộ Quốc phòng, được chỉ huy, đảm bảo thống nhất theo ngành dọc từ Trung ương đến cơ sở, với 3 cấp: Bộ Tư lệnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố và Đồn Biên phòng. Thường xuyên phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng trên địa bàn; khi có chiến tranh, thực hiện theo quy chế của Bộ Quốc phòng.

2. Quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Bộ đội Biên phòng

a) Xây dựng phòng tuyến nhân dân, tiễu phỉ, chống gián điệp, biệt kích, bảo vệ biên giới, giới tuyến quân sự tạm thời và các mục tiêu trọng yếu ở nội địa (1959 - 1965)
Ngay từ khi mới thành lập, tuy trang bị còn rất thô sơ, thiếu thốn nhiều mặt, địa bàn hoạt động rộng, xa xôi hẻo lánh, thời tiết, khí hậu vô cùng khắc nghiệt... nhưng mọi cán bộ, chiến sĩ Công an Nhân dân vũ trang đã đoàn kết một lòng, vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, nhanh chóng triển khai lực lượng, dựng đồn, lập trạm, vận động nhân dân định canh, định cư, dựng làng, lập bản, xây dựng cơ sở chính trị, tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc trên biên giới, xây dựng phòng tuyến nhân dân, chiến đấu tiễu phỉ, chống gián điệp, biệt kích, thám báo, bảo vệ biên giới, bờ biển, giới tuyến quân sự tạm thời; bảo vệ Đảng, Nhà nước và các mục tiêu nội địa quan trọng thuộc 33 khu, tỉnh, thành miền Bắc và thủ đô Hà Nội. Tiêu biểu trên lĩnh vực xây dựng phòng tuyến nhân dân bảo vệ biên giới giai đoạn này có Anh hùng liệt sỹ Trần Văn Thọ đã nêu cao tấm gương “Trung với Đảng, tận tụy với dân” hết lòng vì hạnh phúc của nhân dân. Anh đã sống mãi với đồng bào các dân tộc biên giới nói chung và đồng bào dân tộc Hà Nhì, tỉnh Điện Biên nói riêng. Tiêu biểu trên mặt trận tiễu phỉ, chống gián điệp, biệt kích, bảo vệ biên giới, bờ biển, giới tuyến là Công an Nhân dân vũ trang các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Nghĩa Lộ, Hà Giang, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, các đồn Công an Nhân dân vũ trang: Cửa Tùng, Cù Bai (Quảng Trị), Keng Đu (Nghệ An), Quang Chiểu, Pù Nhi (Thanh Hóa), Pha Long (Lào Cai), C1 cơ động (Hà Giang), C1 cơ động (Cao Bằng), Tiểu đoàn 12 (Trung đoàn 12, Đoàn Thanh Xuyên)... Tiêu biểu trên lĩnh vực bảo vệ Đảng, Nhà nước và nội địa là cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 600, Trung đoàn 254 và Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Văn Nhỏ (Trung đoàn 600)… Các tập thể, cá nhân anh hùng thời kỳ này mãi ngời sáng tấm gương hy sinh, tận tụy với dân, “Chỉ biết còn Đảng là còn mình”, coi “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”, vươn lên hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

b) Bảo vệ biên giới, giới tuyến quân sự tạm thời, các mục tiêu trọng yếu ở nội địa, vừa tham gia đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc và chi viện cho An ninh vũ trang miền Nam (1965 - 1975)
Đây là giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, các đơn vị Công an Nhân dân vũ trang tham gia chống chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ, làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Lào; chi viện cho cách mạng miền Nam diệt ác, phá kìm, bảo vệ Trung ương Cục, bảo vệ vùng giải phóng; tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Thực hiện lời kêu gọi kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đơn vị Công an Nhân dân vũ trang thường xuyên bám trụ ở những điểm đánh phá ác liệt nhất của đế quốc Mỹ. Cán bộ, chiến sĩ luôn kiên cường chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc, chiến đấu bảo vệ biên giới, giới tuyến quân sự tạm thời, các mục tiêu quan trọng ở nội địa và chi viện cho lực lượng An ninh vũ trang miền Nam, nhiều đồng chí đã không quản ngại hy sinh, gian khổ, vượt qua bom đạn cứu dân, cứu tài sản Nhà nước; tháo gỡ bom mìn, thủy lôi của địch, giữ vững an ninh trật tự khu vực biên giới và các mục tiêu nội địa, góp phần bảo vệ an toàn tuyến hành lang vận chuyển chi viện cho chiến trường miền Nam (đường Hồ Chí Minh trên bộ, trên biển). Từ năm 1965 đến 1975, toàn lực lượng trực tiếp bắn rơi 219 máy bay Mỹ, phối hợp với các đơn vị bạn bắn rơi 225 chiếc, bắn bị thương 128 chiếc, bắt sống nhiều giặc lái Mỹ và chi viện trên 5.000 cán bộ, chiến sĩ cho An ninh vũ trang miền Nam. Ngoài ra, các đơn vị Công an Nhân dân vũ trang miền Bắc còn cử nhiều đội công tác đặc biệt sang giúp bạn Lào xây dựng cơ sở chính trị, vận động nhân dân tham gia quân đội, ủng hộ cách mạng Lào và tổ chức tuyên truyền đặc biệt, tấn công chính trị, chiến đấu vũ trang phá nhiều cụm phỉ ở mặt trận K5 (đối diện tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh) và các tỉnh của Lào đối diện 3 tỉnh Điện Biên, Sơn La, Quảng Trị.

Trên chiến trường miền Nam. Các chiến sĩ An ninh vũ trang đã bám dân, bám đất, diệt ác, phá kìm, bảo vệ Trung ương Cục, bảo vệ vùng giải phóng. Sau phong trào đồng khởi Bến Tre năm 1960, cách mạng miền Nam bước vào thời kỳ mới - thời kỳ đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang; tháng 7/1960, Trung ương Cục miền Nam ra Chỉ thị số 01 thành lập “Ban An ninh miền”; trong đó nói rõ thành lập bộ phận “An ninh vũ trang”, lúc đầu là Đại đội 180, sau này phát triển thành Trung đoàn 180, làm nhiệm vụ bảo vệ Trung ương Cục ở chiến khu Đ, đến tháng 10/1960 chuyển về chiến khu C ở Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Lực lượng an ninh vũ trang được giao nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài, đánh địch đổ bộ, càn quét, biệt kích, thám báo để bảo vệ các khu căn cứ và Trung ương Cục (cơ quan lãnh đạo đầu não của cách mạng miền Nam). Về tổ chức, ở cấp khu biên chế tiểu đoàn, ở cấp tỉnh biên chế đại đội an ninh vũ trang. Mặc dù phải sống và chiến đấu trong hoàn cảnh cực kỳ gian nan, ác liệt, với chiến thuật kìm kẹp “tìm diệt” vô cùng hiểm độc của Mỹ - ngụy nhưng lực lượng An ninh vũ trang miền Nam luôn phát huy truyền thống sắt son, kiên trung với Đảng, với cách mạng, kiên trì, bền bỉ, bám đất, bám dân, trụ vững giữa lòng địch, xây dựng cơ sở, vận động và tổ chức quần chúng đấu tranh trực diện với kẻ thù, tiến hành công tác binh địch vận, phá vỡ nhiều tổ chức tình báo, mật vụ cài cắm ở các thôn ấp, hỗ trợ đắc lực cho các cuộc nổi dậy của quần chúng phá ấp chiến lược, mở rộng vùng giải phóng; táo bạo “xuất quỷ nhập thần” giữa sào huyệt địch, mưu trí tiến công phá hủy nhiều căn cứ quân sự, mục tiêu quan trọng của Mỹ - ngụy và tiêu diệt bọn ác ôn, đầu sỏ, thám báo, biệt kích bảo vệ an toàn tuyệt đối Trung ương Cục, các Khu ủy, tỉnh ủy, thành ủy ở miền Nam. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, được sự chi viện của Công an Nhân dân vũ trang miền Bắc, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã phối hợp với các lực lượng khác chiến đấu bắt sống, tiêu diệt nhiều gián điệp, ác ôn nằm vùng khét tiếng, tiêu hao sinh lực địch và tham gia dẫn đường cho các cánh quân tiến vào giải phóng Sài Gòn, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của cuộc Tổng tiến công, nổi dậy mùa xuân năm 1975 của quân và dân ta, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
c) Quản lý, bảo vệ biên giới trên phạm vi toàn quốc, đấu tranh chống kế hoạch hậu chiến của địch, tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới, làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào và Campuchia (1975 - 1986)

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã mở ra giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam, giai đoạn cả nước cùng thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tuy đất nước ta đã hoàn toàn độc lập, thống nhất nhưng bọn phản động trong nước vẫn ráo riết cấu kết với chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch triển khai kế hoạch “hậu chiến”; lôi kéo người Việt Nam vượt biên, vượt biển di cư ra nước ngoài; sử dụng tàn quân FULRO, tổ chức lực lượng phản động xâm nhập vào biên giới, móc nối xây dựng cơ sở ngầm, hòng chống đối chính quyền, chống phá lâu dài cách mạng Việt Nam và các nước Đông Dương.

Trước tình hình đó, toàn lực lượng đã tập trung cao độ, khẩn trương triển khai hệ thống đồn, trạm biên giới, vận động nhân dân xây dựng phòng tuyến bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới trên chiều dài gần 8.000 km biên giới, bờ biển, thuộc địa bàn của 1.109 xã, phường, thị trấn; 235 quận, huyện, thị xã, 44 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biên giới, bờ biển, thuộc 7 quân khu (Quân khu 1, 2, 3, 4, 5, 7 và 9); khẩn trương cùng các đơn vị của Quân đội, Công an và nhân dân cả nước quyết tâm đấu tranh chống kế hoạch “hậu chiến”, truy quét tàn quân FULRO, chống vượt biên, vượt biển trái phép, bóc gỡ cơ sở ngầm của địch, củng cố hệ thống chính trị cơ sở mới thành lập ở các tỉnh biên giới phía Nam; trực tiếp đương đầu với cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam (1975 - 1978), biên giới phía Bắc (1979) và chống “chiến tranh phá hoại nhiều mặt”, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khu vực biên giới, biển đảo, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ Tổ quốc. Phẩm chất anh hùng cách mạng, sự hy sinh quên mình vì chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia của Bộ đội Biên phòng tiếp tục ngời sáng. Thực hiện chủ trương của Đảng “giúp bạn là tự giúp mình”, Bộ đội Biên phòng đã triển khai 9 trung đoàn (e2, e4, e6, e8, e10, e11, e14, e20, e180) phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, kề vai sát cánh cùng lực lượng vũ trang và nhân dân Campuchia đấu tranh chống Khơme đỏ, phá tan chế độ diệt chủng ở Campuchia, giúp bạn bảo vệ chủ quyền biên giới trên các tuyến và cử nhiều đội công tác giúp nhân dân Lào đấu tranh chống phỉ và bọn phản động, góp phần giành lại độc lập, chủ quyền, củng cố hòa bình, đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc, tình cảm tốt đẹp trong lòng nhân dân Lào và nhân dân Campuchia anh em.

d) Đổi mới đồng bộ, toàn diện công tác biên phòng, xây dựng Bộ đội Biên phòng vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới (1986 đến nay)

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ năm 1986, nước ta bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế nhưng các thế lực thù địch thường xuyên ráo riết đẩy mạnh âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Do đó, đặt ra những yêu cầu đòi hỏi mới cho công tác biên phòng: Vừa phải giữ vững chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới Tổ quốc, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu, hợp tác, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và nhân dân. Vì vậy, nhiệm vụ công tác biên phòng thời kỳ này đặt ra rất toàn diện và nặng nề, bao gồm: Bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ cuộc sống của nhân dân, bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia, đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm ở biên giới; tham mưu cho các cấp ủy đảng, chính quyền, phối hợp với các ngành, các lực lượng và vận động quần chúng nhân dân xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, xây dựng nền biên phòng toàn dân vững mạnh.
Trước tình hình đó, quán triệt đường lối đổi mới của Đảng, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị tích cực nghiên cứu, đổi mới toàn diện các biện pháp công tác biên phòng, bao gồm: Đổi mới tư duy lý luận về công tác biên phòng; đổi mới chủ trương, đối sách đấu tranh với các loại đối tượng; đổi mới về bố trí, sử dụng lực lượng, phương tiện và đổi mới hình thức, biện pháp phối hợp với các ngành, các lực lượng trong bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới... Trong đó xác định biện pháp trinh sát là mũi nhọn, biện pháp vận động quần chúng là cơ bản, biện pháp tuần tra vũ trang, biện pháp kiểm soát hành chính, công trình kỹ thuật là quan trọng và nâng tầm công tác đối ngoại biên phòng thành một biện pháp công tác nghiệp vụ của Bộ đội Biên phòng trong bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới; kết hợp chặt chẽ an ninh, quốc phòng và đối ngoại, lấy xây dựng nền biên phòng toàn dân làm nền tảng, tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo ở khu vực biên giới, giúp đỡ nhân dân phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, bão, lụt... coi đây vừa là biện pháp vừa là mục tiêu của công tác vận động quần chúng. Trong bố trí sử dụng lực lượng, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh đã tham mưu cho Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an, Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương), Bộ Quốc phòng điều chỉnh vị trí đóng quân của các đồn biên phòng theo hướng gần biên giới, có địa hình phòng thủ tốt nhưng phải gần dân, nắm được địa bàn, phục vụ tốt công tác giao lưu, đối ngoại và thuận tiện cho đời sống của cán bộ, chiến sĩ, nên nhìn chung các đồn biên phòng sau khi được đầu tư xây dựng mới đã trở thành điểm sáng về văn hóa, là điểm tựa của khu vực phòng thủ và là cơ quan đại diện của quốc gia ở khu vực biên giới, được cấp ủy, chính quyền, nhân dân các địa phương và các ngành, các cấp đánh giá cao.

Xuất phát từ yêu cầu đòi hỏi của tình hình trên các tuyến biên giới, bên cạnh việc giải thể, sáp nhập một số cơ quan, đơn vị theo chủ trương chung về tinh giảm biên chế, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh đã tham mưu với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng thành lập mới và nâng cấp một số cơ quan, đơn vị như: Thành lập Cục Phòng, chống tội phạm ma túy (nay là Cục Phòng, chống ma túy và tội phạm); Cục Cửa khẩu; Phòng Cứu hộ, cứu nạn; Phòng Đối ngoại, Ban Nghiên cứu chiến lược thuộc Bộ Tham mưu; Viện Chiến lược Biên phòng thuộc Học viện Biên phòng; chia tách Cục Hậu cần - Kỹ thuật thành Cục Hậu cần, Cục Kỹ thuật; thành lập Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Ninh Bình; thành lập Đồn Biên phòng 394 (Trường Sa) và một số đồn biên phòng trên các hướng, địa bàn trọng điểm. Nâng cấp Trường Đại học Biên phòng thành Học viện Biên phòng; Trường Trung học Biên phòng 1, 2 thành Trường Trung cấp Biên phòng 1, 2; Trường 24 thành Trường Trung cấp 24 Biên phòng; Trường Dạy nghề số 11 thành Trường Trung cấp nghề số 11; Tiểu đoàn Thông tin 21 thành Trung đoàn (nay là Lữ đoàn Thông tin 21); thành lập Phòng Phòng, chống mua bán người thuộc Cục Phòng, chống ma túy và tội phạm; giao nhiệm vụ phòng chống mua bán người cho Phòng Phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội Biên phòng 44 tỉnh, thành phố và các Ban Trinh sát thuộc 4 hải đoàn Biên phòng... Các đơn vị đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, nhất là trong đấu tranh phòng chống ma túy và tội phạm, chống buôn lậu, gian lận thương mại, trong giải quyết các vụ việc phức tạp về an ninh trật tự ở khu vực biên giới, không để phức tạp kéo dài trở thành điểm nóng… phục vụ tốt chủ trương mở cửa, hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước. Trước yêu cầu của nhiệm vụ trong tình mới, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh tiếp tục tham mưu, đề nghị Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng cho phép thành lập Ban Tác chiến không gian mạng thuộc Bộ Tham mưu, chuyển 5 cụm chó nghiệp vụ thuộc Trường Trung cấp 24 Biên phòng cho các Trung tâm huấn luyện do Bộ Tham mưu quản lý; thành lập Trung tâm chỉ huy tác chiến nghiệp vụ Bộ đội Biên phòng... Triển khai thực hiện tốt Đề án “Nâng cao năng lực đấu tranh phòng, chống ma túy và tội phạm của Bộ đội Biên phòng giai đoạn 2014 - 2020”...
Những lời dạy của Bác Hồ kính yêu đã trở thành phương châm hành động của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng, được cụ thể hóa trong Cuộc vận động “Học tập và làm theo lời dạy của Bác Hồ đối với Bộ đội Biên phòng” do Đảng ủy, Bộ Tư lệnh phát động từ năm 2000. Cuối năm 2006, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 06-CT/TW, ngày 07/11/2006 về phát động trong toàn Đảng, toàn dân thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Đảng ủy Bộ đội Biên phòng đã kịp thời ra Chỉ thị số 07-CT/ĐU, ngày 08/8/2007, phát động trong toàn lực lượng Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và lời dạy của Bác Hồ đối với Bộ đội Biên phòng”. Đây là sự vận dụng sáng tạo của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh về việc cụ thể hóa Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” vào điều kiện cụ thể của Bộ đội Biên phòng. Sau tổng kết, Bộ Chính trị khóa XI ra Chỉ thị số 03-CT/TW, ngày 14/5/2011 và Quân ủy Trung ương ra Chỉ thị số 317-CT/QUTW, ngày 05/8/2011 về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn quân. Việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và lời dạy của Bác Hồ đối với Bộ đội Biên phòng” trở thành việc làm thường xuyên, hàng ngày của mọi cán bộ, chiến sĩ toàn lực lượng. Để cụ thể hóa Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 317-CT/QUTW của Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Bộ đội Biên phòng đã ra Chỉ thị số 118-CT/ĐU, ngày 16/8/2011 về triển khai Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, giữ vững kỷ cương, sống có tình thương, đề cao trách nhiệm” trong Bộ đội Biên phòng. Thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII, Chỉ thị số 87-CT/QUTW, ngày 08/7/2016 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Đảng ủy Bộ đội Biên phòng đã xây dựng và triển khai Kế hoạch về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và lời dạy của Bác Hồ đối với Bộ đội Biên phòng trong Đảng bộ và toàn lực lượng Bộ đội Biên phòng” được cán bộ, đảng viên và quần chúng nhiệt liệt hưởng ứng và tích cực thực hiện.

Trong công tác bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia, đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng và các địa phương hoàn thành tốt công tác phân giới cắm mốc biên giới đất liền với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, công tác tăng dày, tôn tạo mốc quốc giới với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và tổ chức bảo vệ biên giới theo các văn bản pháp lý về biên giới và cửa khẩu mà nước ta đã ký kết với hai nước; đồng thời đang tích cực phối hợp với Ủy ban biên giới Quốc gia, Bộ Ngoại giao và các tỉnh biên giới hoàn thành công tác phân giới, cắm mốc trên tuyến biên giới đất liền với Vương quốc Campuchia, cụ thể:
Tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc, đã hoàn thành công tác phân giới, cắm mốc năm 2008 với đường biên giới dài 1.449,566 km, cắm tổng số 1.971 cột mốc. Ngày 18/11/2009, Chính phủ hai nước ký 03 văn kiện về biên giới đất liền, gồm: Nghị định thư Phân giới, cắm mốc; Hiệp định về Quy chế quản lý biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc; Hiệp định về Cửa khẩu và Quy chế quản lý cửa khẩu biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc.

Tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Lào, đã hoàn thành Dự án tăng dày, tôn tạo hệ thống mốc quốc giới biên giới Việt Nam - Lào năm 2016 với đường biên giới đất liền dài 2.337,459 km bao gồm 792 vị trí/834 cột mốc, 113 vị trí/168 cọc dấu. Ngày 16/3/2016, Chính phủ hai nước ký Nghị định thư về Đường biên giới và mốc quốc giới; Hiệp định về Quy chế quản lý biên giới và cửa khẩu biên giới trên đất liền Việt Nam - Lào.

Tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Campuchia, tính tháng 12/2018, đã xác định được 265/314 vị trí mốc (đạt 84,90%), tương ứng với 317/371 mốc (đạt 85,44%); xây dựng được 315/371 mốc (đạt 84,63%); phân giới được khoảng 932,7/1.137 km (đạt 81,97%).
Trong công tác đấu tranh phòng, chống ma túy và tội phạm, giữ vững an ninh trật tự 10 năm qua, các đơn vị Bộ đội Biên phòng đã tiến hành thực hiện tốt công tác điều tra cơ bản địa bàn, tuyến hoạt động của tội phạm, chuyên đề nghiệp vụ, sưu tập địa bàn ngoại biên, xác lập và đấu tranh thành công hàng ngàn chuyên án... Phát hiện, điều tra, bắt giữ, xử lý 114.898 vụ/197.603 đối tượng phạm tội và vi phạm pháp luật (trong đó, tội phạm về ma túy 10.268 vụ/12.913 đối tượng; buôn lậu, gian lận thương mại và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới 21.977 vụ/23.970 đối tượng; mua bán người 1.296 vụ/1.526 đối tượng, giải cứu và tiếp nhận 1.587 nạn nhân; tội phạm hình sự và vi phạm pháp luật khác 81.357 vụ/159.194 đối tượng). Tang vật thu giữ 1.561kg hêrôin; 518,2kg thuốc phiện; 684,5kg, 04 triệu viên ma túy tổng hợp; 4.500kg cần sa; 3.500 kg tiền chất để sản xuất ma túy; 496 nghìn tấn than; 45 nghìn tấn quặng; 46,3 triệu lít xăng, dầu; 5,92 triệu bao thuốc lá; 1,7 tấn lá thuốc lá và nhiều tang vật khác…

Với chức năng là đội quân chiến đấu, công tác, lao động, sản xuất; từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ, Bộ đội Biên phòng đã làm tốt công tác vận động quần chúng góp phần đem đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đến với đồng bào các dân tộc biên giới, gắn công tác tuyên truyền, vận động với triển khai các phong trào hành động cách mạng ở cơ sở. Triển khai nhiều mô hình, chương trình, phong trào tiêu biểu với cách làm sáng tạo trong quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, tham gia xây dựng, củng cố cơ sở chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng địa bàn biên giới vững mạnh, như: Thầy giáo quân hàm xanh, nâng bước em tới trường; thầy thuốc quân hàm xanh; chiến sĩ tuyên truyền văn hóa quân hàm xanh; cán bộ biên phòng tăng cường xã; đảng viên biên phòng tham gia sinh hoạt tại chi bộ thôn, bản; điểm sáng văn hóa vùng biên; trạm quân dân y kết hợp; lớp học tình thương; mái ấm cho người nghèo và chiến sĩ nơi biên giới, hải đảo; nghĩa tình đồng đội nơi biên giới; bò giống cho người nghèo nơi biên giới; xuân biên phòng ấm lòng dân bản; ba bám, bốn cùng; Bộ đội Biên phòng chung sức xây dựng nông thôn mới và tham gia xóa đói, giảm nghèo khu vực biên giới; bảo tồn và phát triển các dân tộc thiểu số; đồng hành cùng phụ nữ biên cương; hãy làm sạch biển; cán bộ biên phòng học tiếng dân tộc, ngôn ngữ nước láng giềng; tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ, trồng cây chủ quyền biên giới; tay kéo biên phòng; cụm phát thanh vùng biên; thư viện, tủ sách, phòng đọc biên giới…

Trong những năm gần đây, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã chủ động tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng đề ra các chủ trương, chính sách xây dựng và bảo vệ biên giới một cách cơ bản, toàn diện, như: Ban hành Chỉ thị số 34/CT-BTL, ngày 24/6/2003 về “Tổ chức phong trào quần chúng tham gia tự quản đường biên, cột mốc và an ninh trật tự xóm, bản khu vực biên giới”; tham mưu cho Bộ Quốc phòng và Chính phủ ban hành Chỉ thị số 01/CT-TTg, ngày 09/01/2015 về “Tổ chức phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới”. Đồng thời, trực tiếp phối hợp với các ban, bộ, ngành Trung ương, cấp ủy, chính quyền các địa phương đẩy mạnh hoạt động Ngày Biên phòng toàn dân trên phạm vi cả nước với nhiều hình thức phong phú, sinh động, thiết thực; tổ chức được nhiều phong trào quần chúng tiêu biểu trong quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, như: Quần chúng nhân dân tham gia tự quản đường biên, cột mốc biên giới và giữ gìn an ninh, trật tự thôn, bản khu vực biên giới; tổ phụ lão, tổ phụ nữ quản lý thôn, bản biên giới; thanh niên xung kích bảo vệ đường biên; thôn xóm, bản, làng bình yên không có tội phạm ma túy; tổ tàu, thuyền bến bãi an toàn, văn hóa; già làng, trưởng bản gương mẫu; họ, đạo gương mẫu; kết nghĩa hai bên biên giới; du lịch cộng đồng gắn với phát triển bền vững; phủ xanh đất trống đồi trọc; công trình thủy lợi ruộng lúa nước; trồng ngô hai vụ xen canh rau đậu, ao thả cá vườn-ao-chuồng-rừng, trồng chanh leo…

Cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng đã một lòng, một dạ vì dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, nêu cao phẩm chất và truyền thống tốt đẹp của quân đội nhân dân trong chiến đấu, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân; tích cực tham gia tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục có hiệu quả những thiệt hại về thiên tai, ổn định đời sống nhân dân. Hình ảnh người chiến sĩ biên phòng luôn in đậm trong lòng nhân dân cả nước; luôn được nhân dân thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ tận tình như con em ruột thịt, tạo nên sức mạnh to lớn, giúp Bộ đội Biên phòng hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Kế thừa, phát huy truyền thống anh hùng của các thế hệ Công an Nhân dân vũ trang, Bộ đội Biên phòng trong thời kỳ đổi mới đã xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu của các tập thể, cá nhân dũng cảm “Vì nhân dân quên mình” trong đấu tranh chống tội phạm, công tác tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, giúp đỡ nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường; tham gia phát triển kinh tế - xã hội, giúp dân xóa đói, giảm nghèo... được đồng bào các dân tộc ở khu vực biên giới, biển đảo và nhân dân cả nước ghi nhận, góp phần tô thắm thêm truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, truyền thống anh hùng của Bộ đội Biên phòng.

3. Những phần thưởng cao quý và những nét tiêu biểu của truyền thống Bộ đội Biên phòng

Trải qua 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sỹ Bộ đội Biên phòng đã lập nên nhiều chiến công và thành tích xuất sắc, được Đảng, Nhà nước ghi nhận. Những chiến công, thành tích xuất sắc của Bộ đội Biên phòng đã góp phần giữ ổn định biên giới quốc gia, phục vụ đắc lực nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tô thắm thêm truyền thống hào hùng của dân tộc và của các lực lượng vũ trang nhân dân. Toàn lực lượng đã 2 lần được tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; được tặng thưởng 01 Huân chương Sao Vàng; 03 Huân chương Hồ Chí Minh; 02 Huân chương Độc lập hạng Nhất, hạng Nhì; 02 Huân chương Quân công hạng Nhất, hạng Ba; 01 Huân chương Lao động hạng Ba và nhiều phần thưởng cao quý khác. Có 154 lượt tập thể và 67 cá nhân được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó có 8 tập thể được tuyên dương lần thứ 2 và 45 tập thể, 6 cá nhân được tuyên dương Anh hùng trong thời kỳ đổi mới.

Phẩm chất cách mạng, sự mưu trí của Công an Nhân dân vũ trang trước đây và Bộ đội Biên phòng ngày nay đã được thể hiện sinh động trong truyền thống vẻ vang của lực lượng với những nét đặc trưng nổi bật: Một là, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ quyết tâm bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong mọi tình huống. Hai là, cảnh giác, mưu trí, dũng cảm trong chiến đấu, chủ động sáng tạo trong công tác, quyết thắng mọi kẻ thù và các loại tội phạm, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Ba là, gắn bó máu thịt với nhân dân, đoàn kết, phối hợp chặt chẽ với các ngành, các lực lượng; phát huy sức mạnh tổng hợp trong xây dựng và bảo vệ biên giới. Bốn là, đoàn kết thống nhất, trên dưới một lòng, đồng cam cộng khổ, vượt mọi khó khăn; thực hiện “liêm, chính, kiệm, cần”, xây dựng lực lượng ngày càng vững mạnh. Năm là, tăng cường đoàn kết quốc tế, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển với các nước láng giềng.

4. Một số nét tiêu biểu của Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam

Thực hiện chủ tr¬ương của Trung ương Đảng, tháng 3/1961, Tỉnh ủy quyết định thành lập Ban bảo vệ an ninh Quảng Nam - Đà Nẵng trên cơ sở kiện toàn Ban Bảo vệ Đảng. Ngay trong tháng 3/1961, theo sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Ban bảo vệ An ninh đã mở khoá huấn luyện nghiệp vụ An ninh đầu tiên trong kháng chiến chống Mỹ; giáo viên tập huấn là các đồng chí cán bộ Công an và Công an nhân dân vũ trang từ miền Bắc vào trong đợt chi viện đầu tiên, lớp tổ chức tại làng Blô Hiền, huyện Hiên (nay là thôn Bút Tưa, xã Sông Kôn, huyện Đông Giang).

Tháng 5/1961, chấp hành ý kiến chỉ đạo của Tỉnh ủy, đồng chí Trưởng ban Bảo vệ an ninh đã trực tiếp đề xuất kế hoạch thành lập lực lượng An ninh vũ trang Quảng Nam - Đà Nẵng (lúc đầu gọi là Tổ cảnh vệ). Sau khi được Tỉnh ủy phê duyệt, ngày 19/5/1961, ngày sinh nhật Bác Hồ, lễ ra mắt đơn vị tiền thân của An ninh vũ trang Quảng Nam - Đà Nẵng đ¬ược tổ chức đơn giản, nh¬ưng hết sức trang trọng, thiêng liêng tại Làng Blô Hiền, huyện Hiên. Quân số của Tổ cảnh vệ (đơn vị tiền thân của An ninh vũ trang Quảng Nam - Đà Nẵng) lúc mới thành lập có 7 đồng chí, đồng chí Đinh Ngọc Cân được giao làm Tổ trưởng và các đồng chí: Trần Ngọc Lánh, Phan Văn Dư¬ỡng, Nguyễn Hồng Hạnh, Trần Văn Dũng, Nguyễn Văn Hy và đồng chí Alăng Bụp (ng¬ười dân tộc Cơ tu, huyện Hiên) làm thành viên.

Trước diễn biến ngày càng phát triển của phong trào cách mạng, Tỉnh ủy chủ trương tăng c¬ường xây dựng, củng cố ngành An ninh tỉnh. Ngày 22/2/1962, Tỉnh uỷ quyết định đổi tên ban Bảo vệ An ninh thành Ban An ninh tỉnh để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của tình hình mới. Bộ Công an chi viện thêm cán bộ từ miền Bắc vào, quân số của Ban tăng lên 30 ng¬ười, đã thành lập chi bộ và chi đoàn thanh niên.

Cuối năm 1962, thực hiện chủ trương của Trung ương, Khu uỷ Khu 5 quyết định chia tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng thành 2 đơn vị: Tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Đà (tỉnh Quảng Nam từ huyện Quế Sơn trở vào, tỉnh Quảng Đà từ huyện Duy Xuyên trở ra và cả thành phố Đà Nẵng). Ban An ninh cũng chia thành 2, lực lượng An ninh 2 tỉnh vẫn duy trì chế độ trao đổi tình hình, phối hợp chặt chẽ với nhau trong công tác và chiến đấu.
Từ năm 1967, lực l¬ượng An ninh vũ trang Quảng Nam đ¬ược lệnh chuyển về xã Tiên Sơn, huyện Tiên Ph¬ước để làm nhiệm vụ bảo vệ Tỉnh ủy đóng tại đây và củng cố đơn vị, chuẩn bị cho kế hoạch mới. Tháng 8/1968, thực hiện Nghị quyết và Chỉ thị của Ban An ninh Miền, Ban An ninh Đặc khu Quảng Đà và Ban An ninh Quảng Nam đều kiện toàn lại. Ban An ninh vũ trang lấy phiên hiệu là Ban 8 (mật danh B8) chuyên trách lực l¬ượng An ninh vũ trang và Trinh sát vũ trang. Ở Quảng Đà, đồng chí Mai Văn Dậu nguyên Trưởng đồn 72 Công an nhân dân vũ trang tỉnh Thanh Hóa vào chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng làm nhiệm vụ chi viện từ cuối năm 1966 và đầu năm 1967 làm Trưởng ban 8. Ở Quảng Nam, Ban 8 do đồng chí Đinh Ngọc Cân phụ trách. Nhiệm vụ của lực lượng An ninh vũ trang tỉnh là bảo vệ cơ quan, cán bộ Tỉnh ủy, cán bộ an ninh tỉnh công tác trong vùng địch, bảo vệ các căn cứ, các trại giam; tổ chức diệt ác, phá kìm các khu địch dồn dân; kiên quyết đánh bại địch khi chúng càn quét vào căn cứ của ta.

Với truyền thống “Trung dũng kiên cường”, với tinh thần linh hoạt, sáng tạo, v-ượt qua khó khăn, liên tục tiến công địch theo chủ trương, đường lối tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, kiên quyết, kịp thời của Tỉnh ủy Quảng Nam và Đặc Khu ủy Quảng Đà, lực l¬ượng An ninh đã cùng Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh v¬ượt qua đ¬ược muôn vàn khó khăn, giữ vững đ¬ược thế tiến công, liên tục đánh bại mọi âm mư¬u thâm độc của kẻ thù đưa phong trào tiếp tục tiến lên. Đến năm 1972, lực lư¬ợng An ninh vũ trang đ¬ược xây dựng thành hệ thống từ tỉnh đến huyện, hoạt động đến xã, đ¬ược bố trí trên khắp địa bàn, đã cùng với nhân dân sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp cách mạng, lập nên những chiến công vang dội. Tiêu biểu như:

Ngày 28/5/1965, lực lượng An ninh vũ trang tỉnh phối hợp với lực lượng bộ binh phản kích, đánh vào quân ngụy ở Vân Quất - Duy Xuyên tiêu diệt gọn 1 đại đội biệt kích Bảo an, 9 trung đội dân vệ, bắt sống 180 tên, thu 40 súng các loại và các phương tiện, tài liệu của địch.

Từ ngày 26/5/1965 đến cuối năm 1966, đội An ninh vũ trang tỉnh do đồng chí Đinh Ngọc Cân chỉ huy, vượt sông đột nhập vào thị xã Tam Kỳ bắt sống tên Bùi Phan Ân, Quận phó Tam Kỳ, tên Nguyễn Thứ, tình báo thuộc biệt động sưu tầm, tên Nguyễn Bắc, Cảnh sát trưởng xã Kỳ Mỹ, bắt tên Trần Kim Lý, Cảnh sát trưởng quận Tiên Phước và bắt sống, tiêu diệt nhiều tên khác thu nhiều tài liệu quan trọng, khai thác nắm được tình hình, âm mưu, thủ đoạn hoạt động của chúng để vạch kế hoạch chủ động tấn công địch.

Ngày 31/3/1967, lực lượng An ninh vũ trang tỉnh tấn công vào trụ sở tỉnh bộ Quốc dân đảng tiêu diệt 1 trung đội lính gác, diệt 40 tên Quốc dân đảng, trong đó có tên đoàn trưởng Bình Định, một trung uý tình báo.

Cũng trong thời gian này, lực lượng An ninh vũ trang tỉnh đã phối hợp với các đơn vị quân đội tấn công vào các sào huyệt địch ở Hội An, Tam Kỳ diệt 74 tên, làm bị thương 11 tên, bắt sống 38 tên thu nhiều vũ khí, tài liệu... Những chiến công của lực lượng An ninh vũ trang tỉnh đã ghi vào trang sử oanh liệt hào hùng của đất n¬ước, của tỉnh nhà, góp phần đánh thắng đế quốc Mỹ xâm l¬ược làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975.

Sau khi đất n¬ước đ¬ược hoàn toàn giải phóng, các cơ quan, lực lượng từ mặt trận, căn cứ về thành phố, đồng bằng tiếp quản và bắt tay xây dựng hệ thống chính quyền, ổn định xã hội. Trong khi đó, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới Tổ quốc phát triển trong điều kiện mới, trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, thiếu thốn, lại một lần nữa, lớp lớp cán bộ, chiến sỹ Công an Nhân dân vũ trang tỉnh không ngại khó khăn gian khổ, từ miền xuôi khoác ba lô ng¬ược lên biên giới, triển khai lực lượng, dựng đồn, lập trạm trên một dải đất biên cương điệp trùng của Tổ quốc. Công việc đầu tiên của Công an Nhân dân vũ trang Quảng Nam là tập trung xây dựng “Lũy thép biên cương”. Cán bộ, chiến sỹ Biên phòng đã tỏa đi các nơi vận động nhân dân về sống tập trung, lập bản, xây dựng hệ thống tổ chức chính trị ở địa bàn biên giới; kiên trì, bền bỉ, bám đất, bám dân, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tham gia phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân dân.

Một nhiệm vụ chính trị vô cùng quan trọng của cán bộ chiến sỹ biên phòng lúc này là thực hiện Chỉ thị số 391, ngày 11/11/1977 của Thủ tướng Chính phủ về "Thực hiện Hiệp ước hoạch định Biên giới Việt Nam - Lào". Công tác khảo sát, cắm mốc ban đầu gặp rất nhiều khó khăn gian khổ, rừng núi hiểm trở, địa hình phức tạp, xa dân, công tác đảm bảo quá khó khăn, rừng thiêng nước độc; trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, hầu hết cán bộ chiến sỹ bị sốt rét, có những đồng chí đã hy sinh ngay trên đường biên. Song, với ý chí quyết tâm vượt qua khó khăn gian khổ, từ năm 1977 đến năm 1980, lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh đã hoàn thành 17 mốc giới từ T1 đến T17, để lần đầu tiên trong lịch sử phân định được đường biên giới giữa Việt Nam và nước bạn Lào trên đoạn biên giới Quảng Nam - Sê Kông.

Cũng trong thời gian sau 1975 đến 1980, chiến sự biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc diễn ra ác liệt. Lực lượng Bộ đội Biên phòng phải chiến đấu trực tiếp, phải chấp nhận những hy sinh, mất mát. Đặc biệt, tổ chức của lực lượng có những thay đổi thăng trầm tác động đến ý chí, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sỹ. Thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả, hàng trăm cán bộ chiến sỹ biên phòng tỉnh đã lên đường trực tiếp tham gia chiến đấu và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong số đó, nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh trên chiến trường nước bạn Campuchia...

Trong thập niên 80, 90 tình hình vượt biên, vượt biển trái phép, buôn lậu diễn ra hết sức phức tạp; các loại đối tượng hoạt động tinh vi, lì lợm, sẵn sàng dùng vũ khí, vũ lực chống trả hòng đạt được mục đích của chúng. Một lần nữa bộ đội biên phòng tỉnh lại đương đầu với những khó khăn, nguy hiểm, kiên quyết ngăn chặn, bắt giữ xử lý nhiều vụ án lớn, giữ vững chủ quyền an ninh biên giới, biển đảo, đem lại bình yên, hạnh phúc cho nhân dân.

Phát huy truyền thống, ngay từ những ngày đấu tái lập tỉnh (năm 1997), toàn thể cán bộ, chiến sỹ Bộ đội Biên phòng tỉnh đã đoàn kết một lòng, quyết tâm gắn bó xây dựng lực lượng, xây dựng quê hư¬ơng; xác định “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”, thực hiện “cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói chung ngôn ngữ với đồng bào các dân tộc”; đoàn kết gắn bó máu thịt với nhân dân, xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ biên giới; tích cực khắc phục hậu quả thiên tai, tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở biên giới, biển đảo, góp phần xóa đói giảm nghèo, từng bước cải thiện, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc... Hình ảnh người lính mang quân hàm xanh đã thực sự chiếm được cảm tình, và sự tin yêu, quý mến của đồng bào các dân tộc, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”.

Trong đấu tranh chống tội phạm, lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh đã xác lập, đấu tranh thành công nhiều chuyên án, vụ án, khởi tố hàng trăm đối tượng. Trong công tác phòng chống bão lụt, tìm kiếm cứu nạn, Bộ đội Biên phòng tỉnh đã tham gia sơ tán hàng chục ngàn người và các loại phương tiện tàu thuyền đến nơi an toàn; cứu nạn hàng chục con tàu và hàng trăm người gặp nạn trên biển; tham gia sửa chữa hàng trăm ngôi nhà bị sập...; tham gia xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa bàn biên giới, biển đảo. Bộ đội Biên phòng tỉnh thực hiện nhiều dự án như mở đường lên biên giới, đường tuần tra biên giới, dự án phủ sóng truyền hình, ngân hàng bò, khai hoang trồng lúa nước, xây dựng hàng trăm nhà “đại đoàn kết”, “mái ấm biên cương”, nhà “nghĩa tình Trường Sơn”; các mô hình “câu lạc bộ không sinh con thứ 3”, “phòng đọc biên giới”, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng, chương trình “nâng bước em tới trường”, “vì những con tàu xa khơi”, “hãy làm sạch biển”, “bát cháo nhân ái”... Thực hiện chủ trương của trên, từ năm 2004, Bộ đội Biên phòng tỉnh đã tuyển chọn, tăng cường cho các xã biên giới 43 cán bộ giữ các cương vị Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã nhằm giúp địa phương củng cố cơ sở chính trị, quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế-xã hội, góp phần nâng cao đời sống nhân dân.
Phối hợp các cấp ủy, chính quyền địa phương và các ngành tổ chức triển khai kế hoạch tăng dày hệ thống mốc quốc giới đảm bảo chất lượng, đúng tiến độ, đến cuối năm 2012, trên đoạn biên giới Quảng Nam - Sê Kông, ta và bạn đã song phương khảo sát và xây dựng xong 60/60 cột mốc (trong đó có 1 mốc đại 717 tại cửa khẩu Nam Giang).

Trong công tác đối ngoại biên phòng: Đã làm tốt công tác tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức các cuộc họp thường niên với bạn Lào để giải quyết các vấn đề liên quan đến xây dựng và bảo vệ biên giới, xây dựng và nâng cấp cửa khẩu Nam Giang - Đắc Tà Oọc; làm chủ đầu tư xây dựng giúp bạn Lào 1 trường nội trú, 2 trung tâm y tế cấp huyện và nhiều công trình dân sinh khác trị giá hàng chục tỷ đồng. Hàng năm và khi có dịch bệnh xảy ra, quân y Bộ đội Biên phòng tỉnh tổ chức lực lượng sang các xã, bản giáp biên khám, điều trị cho nhân dân bạn góp phần xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác đặc biệt Việt - Lào.

Những chiến công, thành tích đó đã góp phần tô thắm thêm trang sử của lực l-ượng Bộ đội Biên phòng Việt Nam Anh hùng, của quê hương Quảng Nam “Trung dũng kiên cường”. Trải qua 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành Bộ đội Biên phòng tỉnh đã lập được nhiều chiến công, thành tích xuất sắc vinh dự được Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao và tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý; trong đó, lực lượng An ninh vũ trang được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ; 08 tập thể được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; 01 tập thể được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới (Đồn Biên phòng Cửa khẩu cảng Kỳ Hà); Bộ đội Biên phòng tỉnh được tặng 01 Huân chương Quân công hạng nhất; 02 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng nhì, ba; 03 Huân chương Chiến công hạng nhất, nhì, ba; 01 Huân chương hữu nghị nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; 06 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; 02 Cờ thi đua của Bộ Quốc phòng; 07 Bằng khen của Bộ Quốc phòng; 02 Cờ thi đua của Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng; 04 Bằng khen của Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng; 02 Cờ của Ủy ban nhân dân tỉnh; 09 Bằng khen của Ủy ban nhân dân tỉnh và 09 cá nhân được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

II. 30 NĂM NGÀY BIÊN PHÒNG TOÀN DÂN

1. Sự ra đời của ngày Biên phòng toàn dân
Biết dựa vào dân, chăm lo sức dân, phát huy sức mạnh của nhân dân trong quản lý, bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia là bài học quý báu của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng. Quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng; tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò, sức mạnh nhân dân “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, xây dựng khu vực biên giới vững mạnh, động viên giáo dục nhân dân và các tầng lớp xã hội hướng về biên giới, giúp đỡ nhân dân biên giới xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc; từ thực tiễn hiệu quả của phong trào quần chúng nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ biên giới, Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã tham mưu và kiến nghị với Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Quyết định số 16/HĐBT, ngày 22/02/1989 về tổ chức Ngày Biên phòng trong cả nước, bắt đầu từ ngày 03/3/1989. Ngày 17/6/2003, tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI đã thông qua Luật Biên giới Quốc gia, trong đó xác định lấy ngày 03/3 hằng năm là Ngày Biên phòng toàn dân.

2. Nội dung, kết quả ngày Biên phòng toàn dân
a) Nội dung. Một là, nâng cao ý thức cảnh giác tinh thần trách nhiệm của nhân dân các dân tộc, của cán bộ, nhân viên các cơ quan, đoàn thể ở biên giới làm tốt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia. Hai là, tăng cường đoàn kết hợp đồng chiến đấu và giúp đỡ lẫn nhau giữa lực lượng biên phòng và nhân dân, giữa lực lượng biên phòng và các lực lượng khác. Ba là, không ngừng củng cố và phát triển tinh thần đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân hai bên biên giới chống mọi hành vi xâm phạm biên giới của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bốn là, đẩy mạnh việc thực hiện các nhiệm vụ trung tâm, đột xuất của địa phương. Năm là, khen thưởng bằng các hình thức thích hợp các xã và đồng bào có công trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ biên giới.

b) Kết quả nổi bật. Qua 30 năm triển khai thực hiện “Ngày Biên phòng toàn dân”, các bộ, ngành Trung ương và các địa phương đã có nhiều cố gắng xây dựng khu vực biên giới phát triển toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh; phòng tuyến nhân dân bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới ngày càng vững mạnh. Các cuộc vận động hướng về biên giới, hải đảo được triển khai rộng khắp trong cả nước, huy động được nguồn lực to lớn giúp đỡ các xã vùng biên giới, ven biển, hải đảo, các đồn, trạm biên phòng, động viên kịp thời cán bộ, chiến sĩ và nhân dân các dân tộc ở biên giới, hải đảo khắc phục khó khăn, thực hiện tốt nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự ở khu vực biên giới, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong mọi tình huống. Ngày 03/3 hằng năm đã trở thành ngày hội động viên đồng bào các dân tộc ở biên giới, hải đảo và nhân dân cả nước tham gia xây dựng và bảo vệ biên giới vững mạnh với tinh thần “Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia”. Đã có hàng nghìn tập thể, cá nhân được Nhà nước, Chính phủ, Bộ Quốc phòng và Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và quận, huyện tặng thưởng nhiều huân chương, bằng khen, giấy khen, kỷ niệm chương .

Đối với tỉnh Quảng Nam. Là một tỉnh ven biển thuộc vùng kinh tế trọng điểm của miền Trung, phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Đông giáp Biển Đông, phía Tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi, Kon Tum. Quảng Nam có 15 huyện, 01 thị xã, 02 thành phố, trong đó có 9 huyện miền núi, với diện tích tự nhiên 10.438,4 km2, dân số khoảng 1,5 triệu người, có sáu dân tộc anh em sinh sống (Kinh, Hoa, Cơ tu, Xê Đăng, Giẻ Triêng, Cor). Khu vực biên giới, biển đảo của tỉnh có những nét đặc thù, vừa có biên giới đất liền, vừa có biển và đảo. Tuyến bờ biển dài 125 km, có 02 xã đảo (xã Tân Hiệp, thành phố Hội An và xã Tam Hải, huyện Núi Thành) đi qua 3 huyện, 1 thị xã, 2 thành phố, có 16 xã phường, 199 thôn, khối phố, với 41.839 hộ/158.043 khẩu, chủ yếu là dân tộc Kinh. Tuyến biên giới đất liền tỉnh Quảng Nam (Việt Nam) - Sê Kông (Lào) dài 157,422 km, đi qua 2 huyện, 14 xã, có 82 thôn, với 5.538 hộ/22.539 khẩu, chủ yếu là dân tộc Cơ tu, Giẻ triêng (Ve, Tà riềng). Trong những năm qua, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tăng trưởng khá, đời sống nhân dân các dân tộc trong tỉnh từng bước được cải thiện và nâng lên rõ rệt, tỷ lệ hộ đói nghèo giảm dần; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản ổn định, quốc phòng, an ninh luôn được giữ vững, công tác đối ngoại biên phòng, ngoại giao nhân dân được chú trọng. 

Thực hiện Chỉ thị số 42/CT-TTg, ngày 22/11/2017 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức sơ kết thực hiện “Ngày Biên phòng toàn dân” giai đoạn 2009 - 2019, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo tổ chức sơ kết thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân ở các cấp, các ngành, trong đó vào ngày 20/9/2018 Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết cấp tỉnh. Qua đánh giá, trong 10 năm thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân trên địa bàn tỉnh đã đạt nhiều kết quả tiêu biểu. Nổi bật là:

- Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo đẩy mạnh thực hiện “Ngày Biên phòng toàn dân” trên địa bàn tỉnh. Trên cơ sở đó các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể và địa phương trong tỉnh theo chức năng, nhiệm vụ được giao đã xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện 5 nội dung “Ngày Biên phòng toàn dân” ở địa phương, đơn vị mình. Định kỳ tiến hành sơ, tổng kết, rút kinh nghiệm, nhân rộng các mô hình hiệu quả, cách làm hay, đề ra chủ trương, giải pháp để tiếp tục đẩy mạnh thực hiện trong các năm tiếp theo.

- Chỉ đạo thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh nói chung, khu vực biên giới nói riêng về nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới với nhiều nội dung, hình thức thiết thực, phong phú, đa dạng, phù hợp với từng đối tượng, địa bàn tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, quần chúng nhân dân đối với nhiệm vụ xây dựng, quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới.

- Tích cực tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước, Chính phủ và các bộ ngành chức năng giải quyết tốt các vấn đề liên quan đến chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới, biển đảo. Triển khai thực hiện nhiệm vụ tăng dày, tôn tạo hệ thống mốc quốc giới giữa tỉnh Quảng Nam (Việt Nam) và Sê Kông (Lào), từ năm 2008 đến 2012 đã hoàn thành xây dựng 60 cột mốc có số hiệu từ 676 đến 735, trong đó tôn tạo 17 cột mốc, tăng dày 42 cột mốc tiểu, 01 cột mốc đại và 07 cọc dấu, đến tháng 10/2013 tiến hành bàn giao cho lực lượng bảo vệ biên giới hai tỉnh tiếp nhận quản lý và bảo vệ. Thực hiện Chỉ thị 01/CT-TTg, ngày 09/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 5709/KH-UBND, ngày 09/01/2015 “Về việc tổ chức phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới”, chỉ đạo các đơn vị, địa phương trên hai tuyến biên giới vận động thành lập được 37 tổ tự quản đường biên, mốc giới với 733 thành viên; 171 tổ tự quản an ninh trật tự với 1.718 thành viên; 84 tổ đoàn kết tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo với 4.366 thành viên.

- Công tác đối ngoại nhân dân, đối ngoại quốc phòng, đối ngoại biên phòng luôn được các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. Cấp ủy, chính quyền và lực lượng vũ trang tỉnh đã tăng cường gặp gỡ, hội đàm, trao đổi với chính quyền, lực lượng chức năng của bạn Lào để giải quyết các vấn đề về biên giới lãnh thổ, hợp tác kinh tế, du lịch và thương mại. Tích cực phối hợp trong đấu tranh phòng chống tội phạm, giải quyết các vấn đề xảy ra trên biên giới, ngăn chặn di cư tự do và xuất nhập cảnh trái phép; giúp đỡ bạn trong huấn luyện nghiệp vụ bảo vệ biên giới, dạy tiếng Việt Nam. Triển khai có hiệu quả phong trào kết nghĩa giữa các cụm (bản) dân cư hai bên biên giới, hiện nay có 35 thôn/10 xã biên giới huyện Tây Giang và Nam Giang kết nghĩa với 16 bản/03 cụm bản của huyện Kà Lừm và huyện Đắc Chưng, tỉnh Sê Kông.

- Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Trong 10 năm qua, lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh đã xác lập, khởi tố, đấu tranh 74 vụ án, bắt giữ, xử lý 83 đối tượng. Tang vật thu giữ gồm: 02 bánh heroin (750 gam); 595 viên ma túy tổng hợp dạng viên nén; 240,012 gam hê rô in; 110,174 gam ma túy tổng hợp dạng đá; 32 liều gói ma túy; 21 gói cỏ Mỹ; 02 gói cần sa khô, 332 kg thuốc nổ, 130 kíp nổ, 160 mét dây cháy chậm; 02 cân điện tử, 14 xe mô tô, 15 điện thoại di động và một số tang vật khác có liên quan. Xử phạt vi phạm hành chính 2.482 vụ/3.107 đối tượng vi phạm pháp luật. Thu nộp ngân sách nhà nước trên 2,2 tỷ đồng.

- Đã triển khai 13 dự án phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp quốc phòng, an ninh với số vốn gần 500 tỷ đồng. Đến nay, 100% xã biên giới đã có đường ô tô vào đến trung tâm và có 90% xã có điện lưới quốc gia, hơn 90% hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh, 95% dân số được xem truyền hình, 100% xã biên giới có sóng điện thoại di động, 100% xã có điểm văn hóa xã, 90% thôn, bản có nhà sinh hoạt cộng đồng; trường học, trạm xã ở các xã hầu hết đã được xây dựng cơ bản.

- Hoạt động kết nghĩa đỡ đầu của các cơ quan, đơn vị tuyến sau đối với cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng và nhân dân biên giới được quan tâm triển khai thực hiện có hiệu quả. Từ năm 2009 đến nay đã có trên 500 đoàn của các cơ quan, đơn vị kết nghĩa, đỡ đầu đến thăm, tặng quà vào dịp lễ, tết, ngày Biên phòng toàn dân (03/3) với số tiền hơn 2 tỷ đồng cùng nhiều các trang bị, phương tiện phục vụ công tác, nhu cầu sinh hoạt cho cán bộ, chiến sĩ và quần chúng nhân dân khu vực biên giới, biển đảo.

- Quan tâm công tác chính sách cán bộ và hậu phương quân đội như xây dựng nhà tình nghĩa, nhà đồng đội; nhà đại đoàn kết; nhà nghĩa tình Trường Sơn; mái ấm chiến sỹ; mái ấm tình thương, nhà hữu nghị cho nhân dân Lào sinh sống giáp biên giới, xây dựng các công trình dân sinh, tặng các trang thiết bị cho nhân dân trên 30 tỷ đồng; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh phát động chương trình "Vì những con tàu xa khơi", quyên góp được 2,4 tỷ đồng phục vụ cho cán bộ, chiến sỹ và nhân dân khu vực biên giới, biển đảo; chú trọng tuyển chọn thanh niên là con em đồng bào các dân tộc thiểu số nhập ngũ vào lực lượng Bộ đội Biên phòng để tạo nguồn cho lực lượng Bộ đội Biên phòng và địa phương.

   Qua 10 năm thực hiện “Ngày Biên phòng toàn dân” đã có 01 cán bộ Bộ đội Biên phòng tỉnh được Chủ tịch nước truy tặng Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, 10 tập thể và 05 cán bộ Bộ đội Biên phòng được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen; hơn 500 tập thể, cá nhân được các cấp khen thưởng; 2.130 cá nhân được tặng Kỷ niệm chương "Vì sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia".

Để góp phần xây dựng khu vực biên giới vững mạnh toàn diện, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới. Các cấp, các ngành, các địa phương trong tỉnh cần tiếp tục quán triệt, thực hiện tốt 5 nội dung “Ngày Biên phòng toàn dân”. Trong đó cần tập trung thực hiện tốt các nội dung sau đây:

Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc mục đích, ý nghĩa, nội dung “Ngày Biên phòng toàn dân”, các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết của Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ, của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, trọng tâm là: Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Nghị quyết Trung ương 8 khóa XII về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Chỉ thị số 48-CT/TW, ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới; Chỉ thị số 46-CT/TW, ngày 22/6/2015 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo an ninh trật tự trong tình hình mới; Chỉ thị số 01/CT-TTg, ngày 09/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ; Chỉ thị số 04 của Tỉnh ủy về tăng cường bảo vệ biên giới, biển đảo trong tình mới; Nghị quyết số 02-NQ/TU, ngày 08/4/2011 của Tỉnh ủy về tăng cường nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, biển đảo trong thời kỳ mới... đến các cấp, các ngành, đoàn thể, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc trong tỉnh.

Hai là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về “Ngày Biên phòng toàn dân”; gắn công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về “Ngày Biên phòng toàn dân” với việc tuyên truyền thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng và Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh về xây dựng lực lượng Bộ đội Biên phòng và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới, biển đảo trong tình hình mới; xây dựng phòng tuyến nhân dân bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, biển đảo vững chắc.

Ba là, tiếp tục đầu tư và có chủ trương, chính sách đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội ở khu vực biển giới, biển đảo; triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 30a, 30b, Nghị quyết 80 của Chính phủ và thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; xây dựng cơ sơ hạ tầng phục vụ quốc phòng, an ninh và dân sinh; kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế.

Bốn là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành, các lực lượng trong xây dựng và bảo vệ biên giới; tăng cường hơn nữa công tác kết nghĩa, đỡ đầu, hỗ trợ, giúp đỡ của các tổ chức và cá nhân ở tuyến sau đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ biên giới, biển đảo. Trong đó, trọng tâm là xây dựng lực lượng Bộ đội Biên phòng vững mạnh toàn diện, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; thực sự là lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia.
Năm là, thường xuyên chăm lo xây dựng và củng cố hệ thống chính trị cơ sở, vũ trang trên các tuyến biên giới, biển đảo vững mạnh; nâng cao ý thức trách nhiệm và tinh thần cảnh giác phát hiện, đấu tranh và kịp thời ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và các loại đối tượng lợi dụng, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Sáu là, đẩy mạnh việc thực hiện quy chế phối hợp giữa Tỉnh ủy với Đảng ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh, quy chế phối hợp giữa Đảng ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh với các huyện ủy, thị ủy, thành ủy biên giới, biển đảo; các chương trình phối hợp giữa Bộ đội Biên phòng tỉnh với các sở, ban, ngành, hội, đoàn thể của tỉnh; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy chế và chương trình phối hợp.

Bảy là, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển với nước láng giềng; giữ vững mối quan hệ, đoàn kết gắn bó, keo sơn quân dân một ý chí; ra sức phấn đấu xây dựng địa bàn biên giới, biển đảo ổn định về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, an ninh, thực hiện thắng lợi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương, quyết tâm bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới của Tổ quốc.

Tám là, các địa phương, đơn vị cần tổ chức thực hiện tốt các nội dung "Ngày Biên phòng toàn dân", hằng năm, vào dịp ngày 03/3 tổ chức sơ kết phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới”, từ đó rút kinh nghiệm, đề ra nội dung, biện pháp thực hiện trong năm tiếp theo và kịp thời biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân tiêu biểu xuất sắc trong phong trào.
*
Nhìn lại chặng đường 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng Bộ đội Biên phòng, 30 năm thực hiện Ngày Biên phòng toàn dân, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng luôn nhận rõ trách nhiệm, trung thành tuyệt đối với Đảng, tận tụy với nhân dân, xứng đáng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, cùng toàn đảng, toàn dân, toàn xây dựng nền Biên phòng toàn dân vững chắc, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia./.

BAN TUYÊN GIÁO TỈNH ỦY - BỘ CHỈ HUY BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG TỈNH QUẢNG NAM

Lượt xem:  197 Bản in Quay lại

Tin đã đưa
Trang 1 / 13 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
 Go To 
 
Xem theo ngày :

Văn bản mới

banner van ban trung uong

Video Clip

This text will be replaced

Thư viện hình ảnh

Website các phòng ban - xã phường