Văn hóa và thông tin thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)
uct
du lịch, tour du lich
Văn hóa và thông tin thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) (21/08/2015)
Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập, mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc. Cả nước, từ Bắc chí Nam, rợp trời đỏ sao vàng, rộn ràng vang dậy tiếng ca. Ngọn cờ đỏ sao vàng và bài hát cách mạng hồi đó đã trở thành tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc thúc giục mọi người xuống đường đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài bảo vệ chính quyền non trẻ.
Xây dựng đất nước (9/1945-12/1946)

Bộ Thông tin-Tuyên truyền, thành viên của Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được công bố thành lập ngày 28/8/1945, sau đó đổi tên là Bộ Tuyên truyền và Cổ động ngày 01/01/1946. Đồng chí Trần Huy Liệu được cử làm Bộ trưởng.

Ngày 31/01/1946, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 18/SL về việc lưu chiểu văn hóa phẩm đặt nền móng cho việc xây kho tàng trữ quốc gia các xuất bản phẩm trong nước và đưa ra phục vụ nhân dân tại Thư viện quốc gia.

Sau khi Quốc hội khóa 1 họp ngày 02/3/1946 thành lập Chính phủ Liên hiệp chính thức đầu tiên thì Bộ Tuyên truyền và Cổ động không còn nữa. Cho đến ngày 13/5/1946, Nha Tổng giám đốc thông tin, tuyên truyền mới được tổ chức dưới quyền chỉ huy và kiểm soát trực tiếp của Bộ Nội vụ, do cụ Huỳnh Thúc Kháng làm Bộ trưởng, bác sĩ Nguyễn Tấn Gi Trọng làm Tổng giám đốc; và đến ngày 27/11/1946 đổi thành Nha thông tin.

Các cơ quan phụ thuộc Tổng nha lúc đó có Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, thành lập ngày 07/9/1945, Ty nhận tin vô tuyến điện, Ty kiểm soát giấy, Ty kiểm duyệt báo chí và sách.

Mỗi Kỳ, đến kháng chiến toàn quốc chia thành các Liên khu, có một Sở Thông tin; mỗi tỉnh, thành phố có một Ty thông tin; ở cấp huyện và xã do một ủy viên Ủy ban hành chính phụ trách.

Các báo chí lúc này, ngoài các tờ báo vốn có từ trước cách mạng Tháng Tám như Cứu quốc (Mặt trận Việt Minh), Cờ giải phóng (Đảng Cộng sản Đông dương), Hồn Nước (Thanh niên cứu quốc), Độc lập (Đảng Dân chủ), còn có thêm báo Lao động (Công đoàn cứu quốc), Tiếng gọi phụ nữ (Phụ nữ cứu quốc), Sao vàng (Quân đội), Sự thật (Hội nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác). Ở Miền Nam có các báo Thống nhất, Toàn quốc kháng chiến, sau đổi là báo Nhân dân Miền Nam, Chống xâm lăng, Cảm tử, Tiền đạo, Tiếng súng chống xâm lăng, Tổ quốc… và The voice of Việt Nam (bằng tiếng Anh), La Républicque (tiếng Pháp), Pour la paix (Đảng xã hội)…

Ở Hà Nội, Hội văn hóa cứu quốc vốn có từ hồi bí mật xuất bản tờ Tiền phong và ở nhà hát thành phố đã diễn vở kịch Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng.

Bên cạnh báo Sự thật, có Nhà xuất bản Sự thật đã xuất bản một số sách dịch như Tuyên ngôn Cộng sản, Hai sách lược, Làm gì, Lịch sử Đảng cộng sản Liên Xô… Nhà xuất bản Văn hóa cứu quốc, Nhà xuất bản Lao Động cũng ra đời vào thời kỳ này.

Một số nhà in tư nhân được ta mua lại và lập ra nhà in Việt Nam quốc gia ấn thư cục, nhà in Cứu quốc, nhà in Lao động, Nhà in báo Sự thật được đồng chí Trường Chinh đặt tên là nhà in Tiến Bộ. Các khu, các tỉnh cũng có nhà in typô riêng. Một hệ thống nhà in bước đầu được hình thành ở miền Bắc để đảm bảo các nhu cầu in của Nhà nước và các cơ quan báo chí, xuất bản. Ở Nam Bộ, phần lớn in bằng giấy sáp. Chỉ có tờ Tiến lên của Ủy ban kháng chiến Sài Gòn, tờ Cảm tử của Liên hiệp Công đoàn Sài Gòn là in bằng chữ thì phải có dấu.

Đầu năm 1946, Hội nghị thống nhất công tác phát hành sách, báo của Mặt trận Việt Minh đã lập ra cơ quan Tổng phát hành sách, báo cứu quốc.

Công việc tuyên truyền, cổ động sau cách mạng tháng tám tập trung vào hai nhiệm vụ chiến lược: Kháng chiến, kiến quốc, mà trọng tâm là chống nạn đói, chống nạn mù chữ, chống giặc ngoại xâm do Hồ Chủ tịch đề ra ngày 03/9/1945 tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ.

Đồng thời các phong trào khỏe vì nước; xây dựng đời sống mới, giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; bài trừ những thói hư, tật xấu, phong tục tập quán lạc hậu trong ma chay, cưới xin, do Hồ Chủ tịch khởi xướng, được cổ động, tuyên truyền rầm rộ và được nhân dân hưởng ứng tích cực. Đáng chú ý là cuộc vận động Tuần lễ vàng góp quỹ cứu nước được cả nước phấn khởi tham gia, kết quả rất tốt, nhất là ở Hà Nội.

Ngày 23/9/1945, giặc Pháp gây chiến ở Nam Bộ và sau đó lan ra các tỉnh miền Trung. Cả miền Nam, gậy tầm vông vót nhọn, súng ngựa trời, nóp với giáo trên vai xung trận diệt thù cứu nước. Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch “Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn; song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”, nhân dân miền Bắc đã dấy lên phong trào “Nam Tiến” sôi nổi. “Ngày Nam bộ” ủng hộ kháng chiến miền Nam được tổ chức rầm rộ khắp nơi.

Giữa Sài Gòn, hàng chục tờ báo hàng ngày chuyển tải tin tức kháng chiến, chẳng những phát hành ở nội đô mà còn phát hành nhiều nơi trong nước. Đó là phong trào báo chí thống nhất, một mặt trận dư luận chống âm mưu chia cắt Nam bộ ra khỏi Việt Nam, đòi chính phủ Pháp phải thương lượng với chính phủ Hồ Chí Minh. Có thể nói báo chí thống nhất đã áp đảo dư luận phản động, làm chủ trận địa thông tin tuyên truyền. Các chiến sĩ văn hóa, thông tin kháng chiến hoạt động công khai, đóng vai trò đầu tàu trong đấu tranh dư luận ở Nam bộ.

Cuộc Tổng tuyển cử ngày 06/01/1946 bầu ra Quốc hội lập hiến đầu tiên trong cả nước được đông đảo cử tri nô nức đi bầu.

Có thể nói chưa bao giờ có một phong trào thông tin và văn hóa rộng khắp từ Bắc chí Nam, từ miền xuôi đến miền núi, thu hút đông đảo đồng bào, biểu dương lực lượng, sẵn sàng cờ, biểu ngữ xuống đường hy sinh tất cả cho sự nghiệp cách mạng như thời này.

Ngày 24/11/1946, hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, được triệu tập ở Hà Nội. Hồ Chủ tịch khai mạc và nêu bật nhiệm vụ của nền văn hóa mới là: “Phải lấy hạnh phúc của đồng bào, lấy sự nghiệp đấu tranh của dân tộc làm nội dung phản ánh; đồng thời phải biết tiếp thu những kinh nghiệm quý báu của nền văn hóa xưa và nay để xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam với ba tính chất: Dân tộc, khoa học và đại chúng.

Người chỉ rõ: Văn hóa phải hướng dẫn quốc dân thực hiện Độc lập, Tự cường và Tự chủ. Đó là kim chỉ nam xuyên suốt mọi hoạt động của Ngành Văn hóa và Thông tin.

Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946-7/1954)

Ngày 19/12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Các cơ quan, nhà máy chuyển ra vùng căn cứ. Cán bộ văn hóa và thông tin quán triệt tinh thần chỉ đạo: Mọi hoạt động văn hóa lúc này nhằm vào khẩu hiệu “Yêu nước và căm thù giặc” và cuộc chiến tranh này giúp ta “cách mạng hóa văn hóa” đã  lấy việc phổ biến sâu rộng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” làm nội dung chủ yếu và phổ biến cuốn sách Kháng chiến nhất định thắng lợi của đồng chí Trường Chinh, Tổng bí thư Đảng, để nâng cao ý chí, niềm tin, và hành động của mọi người.

Các văn nghệ sĩ tỏa về các liên khu và cơ sở thâm nhập cuộc sống chiến đấu và sản xuất để sáng tác. Đài tiếng nói Việt Nam từ Bạch Mai chuyển lên Việt Bắc vẫn phát đi tiếng nói của Đảng và Chính phủ mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, gian khổ.

Công tác thông tin, tuyên truyền lúc này chiếm vị trí hàng đầu trong năm bước công tác cách mạng. Nói chuyện thời sự là một mục không thể thiếu trong mỗi cuộc họp, được cán bộ, đảng viên, đoàn viên, bộ đội hăng hái tham gia, thu hút đông đảo đồng bào hưởng ứng. Qua các buổi sinh hoạt, qua các hoạt động tuyên truyền miệng, phát thanh loa tay đều đặn hàng ngày, qua các đội tuyên truyền xung phong đi vào những vùng chiến đấu, vùng xa, những chủ trương, chính sách của Đảng, những tin chiến thắng, những sự tích anh hung, những tội ác của giặc, những tình cảm quân dân, những công việc sản xuất được phổ biến, cổ vũ kịp thời trở thành những truyện ký, bài ca, bức họa gây nhiều cảm xúc và ấn tượng mạnh mẽ đối với công chúng.

Khẩu hiệu trên nón, trên áo, thơ ca hò vè cổ động và bài hát cách mạng là nguồn cổ vũ khí phách anh hùng và niềm lạc quan cách mạng.

Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ II họp vào tháng 7/1948 và hội nghị cán bộ văn hóa lần thứ I vào tháng 02/1949 được triệu tập dưới khẩu hiệu “Kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến” của Hồ Chủ tịch. Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ II, đồng chí Trường Chinh đọc bản báo cáo quan trọng Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam, xác định rõ ràng hơn đường lối, nhiệm vụ và phương châm công tác văn hóa kháng chiến. Hội văn nghệ Việt Nam được thành lập, tiếp đó Tạp chí Văn nghệ, Nhà xuất bản Văn nghệ ra đời. Tại Thanh Hóa, đồng chí Đặng Thai Mai đã thành lập Hội văn hóa cứu quốc và Chi hội văn nghệ liên khu IV. Một số văn nghệ sĩ đã ra tờ báo Sáng tạo và tổ chức nhiều lớp bồi dưỡng cán bộ văn hóa, văn nghệ.

Ở vùng tự do Liên khu V, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Phạm Văn Đồng đã mở nhiều lớp văn hóa và lập Chi hội văn nghệ liên khu V. Các nhà văn, nhạc sĩ, họa sĩ, đã ra mặt trận và đã viết nhiều tiểu thuyết, bản nhạc, thơ, đồng thời sưu tầm nâng cao nhiều vốn văn hóa của các dân tộc.

Ở Nam bộ, năm 1948, Ủy ban kháng chiến Nam bộ giao cho tiến sĩ Hoàng Xuân Nhị thành lập Viện văn hóa kháng chiến Nam bộ. Cuộc thi văn nghệ đầu tiên của Nam bộ kháng chiến được tổ chức, gọi là cuộc thi văn hóa kháng chiến Nam bộ, tiền thân của giải Cửu Long sau này.

Công tác thông tin, cổ động, văn hóa, văn nghệ đặc biệt sôi nổi ở vùng giải phóng Tây Nam bộ với nhiều triệu cư dân. Ở đây các cơ quan thông tin, báo chí, văn hóa, văn nghệ phát triển khá rầm rộ. Báo Nhân dân miền Nam của Trung ương Cục miền Nam, tập san Lá lúa của Hội văn nghệ, tập san Tiểu thuyết nhân dân của Ban Tuyên huấn Trung ương Cục in với số lượng lớn, bày bán rộng rãi ở vùng tự do.

Cảm hứng hào hùng từ chiến thắng Thu-Đông 1947 đến Chiến dịch Sông Lô, Sông Thao 1949, Chiến dịch Biên giới 1950, nhiều văn nghệ sĩ đã sáng tác ra những hành khúc, những bản trường ca, những tác phẩm hội họa, những truyện ký, tiểu thuyết về những sự tích anh hùng… làm nức lòng cả nước. Các vùng tự do ngày càng được mở rộng, nối liền nhau, thông thương ra cả nước ngoài. Hoạt động văn hóa và thông tin đã có bề thế quốc gia và quan hệ quốc tế, mở đầu bằng quan hệ với Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác (1950).

Công tác xuất bản, in, phát hành sách, báo đã đảm bảo cung cấp tài liệu cho mọi hoạt động của Đảng và Nhà nước.

Năm 1947, Đảng chủ trương xây dựng lại các nhà xuất bản sách báo. Ở Việt Bắc có thêm Quân du kích, Vệ quốc đoàn, Lao động, Văn nghệ. Ở Nam Bộ có Nhà xuất bản Nhân dân miền Nam. Các phòng chính trị ở mỗi Quân khu đều có xuất bản các loại sách phục vụ trực tiếp cho bộ đội.

Trong kháng chiến đã hình thành nhiều mạng lưới vận chuyển sách báo, có các trạm vận chuyển tới các liên khu Việt Bắc, liên khu Ba, liên khu Bốn. Ở miền Nam, công tác phát hành sách báo từ vùng tự do vào các vùng bị tạm chiếm, nhất là Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn cũng được tổ chức chu đáo. Một số đồng chí đã hy sinh anh dũng.

Hàng ngàn sáng tác mới về thơ, ca, nhạc, họa xuất hiện khắp các chiến trường Trung, Nam, Bắc. Nhiều tác phẩm mới có chất lượng được phổ biến rộng rãi trong nước và cả nước ngoài. Nhiều sách có giá trị của nước ngoài về chính trị, kinh tế, quân sự, văn học nghệ thuật được dịch ra tiếng Việt. Tổng số sách được xuất bản trong kháng chiến (1945-1954) là 8.574.400 bản.

Nghệ thuật điện ảnh cũng đã bắt đầu được xây dựng. Trong kháng chiến đa có 35 bộ phim thời sự, tài liệu ở trong nước. Đáng chú ý là các phim Chiến thắng Tây Bắc, Giữ làng giữ nước và Điện Biên phủ. Các đội chiếu bóng, các đoàn văn công ở trung ương, ở một số địa phương và trong quân đội được thành lập.

Ngày 10/7/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 38/SL sáp nhập Nha Thông tin thuộc Bộ Nội vụ vào Thủ tướng Phủ do đồng chí Trần Văn Giàu làm giám đốc và ngày 24/02/1952 ra Sắc lệnh số 83/SL hợp nhất Nha Thông tin thuộc Thủ tướng Phủ và Vụ Văn học, nghệ thuật thuộc Bộ Giáo dục thành Nha Tuyên truyền và Văn nghệ thuộc Thủ tướng Phủ do đồng chí Tố Hữu phụ trách.

Ngày 10/10/1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 122/SL đặt bộ phận Nhà in và Phát hành trong Nha Tuyên truyền và Văn nghệ thành một doanh nghiệp quốc gia, lấy tên là Nhà in Quốc gia. Nhà in này có nhiệm vụ quản lý cả 3 ngành xuất bản, in, phát hành và đã tổ chức được các Chi nhánh đến Liên khu V. Ở miền Nam, Nhà in Trần Phú của Ban Tuyên huấn Trung ương Cục đông đến 300 thợ và một đội phát hành gồm hàng trăm người là cơ sở in ấn mạnh nhất của kháng chiến Nam bộ cũng được thành lập năm 1947 ở tỉnh Đồng Tháp. Đài phát thanh Tiếng Nói Nam bộ được xây dựng ở khu IX. Năm 1949, Đặc khu Sài Gòn có thêm Đài Tiếng nói Sài Gòn-Chợ Lớn. Từ phòng Điện ảnh-Nhiếp ảnh (thuộc Nha Thông tin) và Điện ảnh kháng chiến Nam Bộ ra đời Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh Việt Nam ở Đồi Cọ (Việt Bắc) vào ngày 15/5/1953 theo Sắc lệnh số 147/SL của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đoàn văn công nhân dân Trung ương, Đoàn văn công Nam bộ cũng được ra đời vào dịp này.

Tháng hữu nghị Việt-Xô-Trung năm 1953 được tổ chức rầm rộ ở tất cả các vùng tự do và vùng căn cứ địch hậu là đỉnh cao của hoạt động văn hóa thời điểm này, bằng tất cả các loại hình văn hóa, nghệ thuật và thông tin lúc đó, đặc biệt là triển lãm, chiếu phim, đọc sách báo, biểu diễn văn nghệ và các trò vui, đã đem lại niềm phấn khởi, tin tưởng và chắc thắng với tình hữu nghị cao cả Việt-Xô-Trung hồi đó.

Vào cuối năm 1953, Đảng và Chính phủ kháng chiến đã huy động sức mạnh tổng hợp của toàn quân, toàn dân ta vào chiến dịch Điện Biên Phủ. Đó là một cuộc tổng động viên vô cùng to lớn. Lớp lớp bộ đội, chiến sĩ dân công, thanh niên xung phong, ngày nghỉ, đêm đi, vẫn vang câu hò, tiếng hát “Đèo cao thì mặc đèo cao, tinh thần phục vụ còn cao hơn đèo”. Các cán bộ văn hóa, văn nghệ và thông tin cũng xuất trận, trên đường hành quân, đến các hầm hào chiến đấu, các lán trại dân công, chia sẻ ngọt bùi, ghi lại và phản ánh kịp thời cuộc chiến đấu vô cùng gian khổ và hào hùng của quân và dân ta. Với đường dây nóng sống động này, tình cảm và tin tức giữa tiền tuyến và hậu phương cả nước được truyền đi nhanh chóng.

Trong vùng sau lưng địch, cuộc chiến đấu vô cùng gay go, quyết liệt và phức tạp. Ở mỗi khu du kích, vùng giáp ranh, ở mỗi khu căn cứ du kích, vùng tạm bị chiếm sâu, đều có những phương thức và hình thức hoạt động thích hợp trong những điều kiện riêng biệt.

a) Ở khu du kích, vùng giáp ranh, trước hết là phải phối hợp với bộ đội địa phương tổ chức các đội tuyên truyền vũ trang xung phong phá tề trừ gian, phá âm mưu bình định của địch và tùy tình hình từng nơi, từng lúc, tình thế chung của chiến trường mà mở các đợt hoạt động mạnh, phối hợp tuyên truyền với tiến công quân sự làm địch phải co lại, rút lui. Hình thức chủ yếu là tuyên truyền miệng, dùng quần chúng tuyên truyền quần chúng, tán phát truyền đơn, sách báo, tài liệu vạch âm mưu thủ đoạn của địch, thông tin chiến thắng và các chủ trương, chính sách của ta để tranh thủ lòng tin và ủng hộ kháng chiến của nhân dân.

b) Ở khu căn cứ du kích là khu tương đối tự do, là cứ điểm cho các hoạt động của ta vào vùng địch tạm chiếm.

Các cơ sở thông tin, các hoạt động tuyên truyền được công khai hoặc nửa công khai: ra bản tin, tài liệu, sách, báo, tổ chức hội họp, diễn thuyết, vận động nhân dân đóng thuế nông nghiệp, tổ chức du kích, xây dựng bộ đội địa phương, lập làng chiến đấu, tòng quân, tình nguyện vào thanh niên xung phong ra vùng tự do và tổ chức các đội xung kích đột nhập các vùng tạm chiếm gọi loa vào đồn địch..

c) Các vùng tạm bị chiếm sâu chủ yếu là ở các thành phố, thị xã, các nơi chính trị xung yếu, được coi là hậu cứ an toàn của chúng. Đó là trung tâm tuyên truyền xuyên tạc và truyền bá văn hóa nô dịch, trụy lạc của địch, hòng lung lạc, mê hoặc, uy hiếp đồng bào, cùng với những vụ vây, ráp, khủng bố dã man.

Cán bộ thông tin, văn hóa sống dựa vào dân, dưới hầm bí mật hoặc cải trang sống công khai len lỏi trong dân để tuyên truyền, vận động từng người, từng nhóm. Tìm cách dựa vào cơ sở để thu tin đài của ta, khai thác tin tức của địch, in tài liệu bí mật lưu hành trong lòng địch. Một số đồng chí đã ngã xuống trong khi thi hành nhiệm vụ.

Từ năm 1947 đến năm 1950, các đội biệt động và tuyên truyền vũ trang của ta đã tổ chức diễn thuyết xung phong, rải truyền đơn ở nhiều nơi, gây ảnh hưởng rất tốt trong dân.

Cuối năm 1948, một nhóm trí thức ở Hà Nội đã ra được báo công khai lấy tên là Công luận do các ông Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Mạnh Hà, Bùi Tường Chiểu, Vũ Văn Hiền chủ trương, nhưng chỉ ra được bốn số thì bị địch đóng cửa. Cán bộ văn nghệ ta làm nòng cốt cho phong trào văn nghệ yêu nước, diễn kịch với đề tài dã sử gợi lòng yêu nước như Bến nước Ngũ Bồ ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn.

Ở Sài Gòn, ngày 09/01/1950, đông đảo các tầng lớp trí thức và đồng bào Sài Gòn – Chợ Lớn đã biến đám tang học trò Trần Văn Ơn, một học sinh yêu nước bị thực dân Pháp bắn chết, thành phong trào sôi nổi chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Hầu hết học sinh, sinh viên Hà Nội cũng bãi khóa hưởng ứng mạnh mẽ.

Ngày 19/5/1950, hơn 500.000 đồng bào Sài Gòn-Chợ Lớn lại rầm rộ xuống đường biểu tình, hiên ngang giương cao quốc kỳ, hô vang khẩu hiệu “Đả đảo đế quốc Mỹ”, “Đế quốc Mỹ cút đi”, buộc Mỹ phải rút chạy hai tàu chiến ngày đêm đó. Ngày 19/5/1950 vẻ vang, từ đó trở thành ngày lịch sử Toàn quốc chống Mỹ của nhân dân ta.

Trong và sau chiến dịch Điện Biên Phủ, trong những ngày công bố hiệp định Giơnevơ, hoạt động thông tin và văn hóa ở vùng sau lưng địch, cả ở các thành phố bị tạm chiếm, đã chuyển sang thế công khai, mở rộng.

Ở Hà Nội, lực lượng yêu nước tiến bộ đã ra tờ Dân ý và Niềm vui tập hợp được nhiều trí thức, văn nghệ sĩ tham gia. Báo chí, tài liệu lúc này có thể in ngay tại nhà in ở thành phố. Ảnh chiến thắng Điện Biên Phủ được nhân bản tại các hiệu ảnh nội thành.

Các chính sách tiếp quản thành phố được in phổ biến rộng rãi, đấu tranh với luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của địch, làm cho nhân dân tin tưởng và tích cực tham gia đấu tranh chống địch di chuyển, cướp phá tài sản, vận động binh lính ngụy trở về với gia đình, chống cưỡng ép di cư.

Cuộc kháng chiến chín năm diễn ra ác liệt. Song ở đâu có kháng chiến, ở đó có văn hóa kháng chiến, theo khẩu hiệu: “Kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến” của Bác Hồ. Thật vậy, cuộc kháng chiến “Chín năm làm một Điện Biên” trường kỳ, gian khổ đã rèn luyện được một lớp người Việt Nam anh hùng, bất khuất, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc; đồng thời qua cuộc kháng chiến này cũng đã hình thành một đội ngũ cán bộ văn hóa, thông tin, một đội ngũ văn nghệ sĩ cách mạng. Những “Chiến sĩ trên mặt trận văn hóa” nói trên - qua các thời kỳ cách mạng - đã biết cách tổ chức công tác tuyên truyền thành một nghệ thuật, đồng thời lại biết cách đưa nghệ thuật vào công tác tuyên truyền. Đây rõ ràng là một thành tựu lớn của nền văn hóa-nghệ thuật-thông tin-tuyên truyền của chúng ta. Tuy nhiên, nhược điểm trong công tác của chúng ta là chưa được thường xuyên, liên tục, chưa đến được nhiều các vùng sâu, vùng xa.

(Theo 50 năm ngành Văn hóa-Thông tin Việt Nam (28/8/1945-28/8/1995) của Bộ Văn hóa-Thông tin, xuất bản tháng 8/1995)

CTTĐT Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch

Lượt xem:  8,442 Bản in Quay lại

Tin đã đưa

Văn bản mới

banner van ban trung uong

Video Clip

This text will be replaced

Thư viện hình ảnh

Website các phòng ban - xã phường